Xu Hướng 3/2024 # Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Ở Thcs # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Ở Thcs được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

THCS, nó luôn gắn liền với tiết tìm hiểu văn bản và tập làm văn. Tiếng việt

không chỉcung cấp cho các em khái niệm vềtừngữ, vềcấu trúc ngữpháp, về

các thủpháp nghệthuật mà còn giúp các em hiểu sâu hơn phần văn bản, hiểu

được tài năng của thếgiới qua ngôn ngữtrong tác phẩm văn chương.

Chương trình ngữ văn hiện nay được biên soạn theo hướng tăng thực

hành và gắn liền với đời sống. Nét cải tiến nổi bật là hướng tích hợp -Biểu

hiện rõ nhất đó là việc sát nhập 3 phân môn mà lâu nay vẫn gọi là Văn -Tiếng

việt -Tập làm văn vào một chỉnh thểlà ngữvăn. Việc thay đổi tên gọi này ảnh

hưởng không nhỏ đến nội dung và phương pháp giảng dạy. Đểdạy và học tốt

môn ngữvăn theo tinh thần mới này, cảgiáo viên và học sinh đều phải thực

hiện tốt phương pháp kết hợp chặt chẽ3 bộphận: Văn bản, Tiếng việt, Tập làm

văn, rèn luyện các kiến thức, kĩnăng của 3 phần. Chính vì những nét mới phổ

biến đó nên qua thời gian giảng dạy Tiếng ởTHCS tôi đã mạnh dạn áp ụng

một số đổi mới phương pháp giảng dạy Tiếng Việt. Cụthểlà với lớp 6.

1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT Ở THCS I. ĐẶT VẤN ĐỀ Tiếng việt là một phân môn khá quan trọng trong bộ môn ngữ văn ở THCS, nó luôn gắn liền với tiết tìm hiểu văn bản và tập làm văn. Tiếng việt không chỉ cung cấp cho các em khái niệm về từ ngữ, về cấu trúc ngữ pháp, về các thủ pháp nghệ thuật mà còn giúp các em hiểu sâu hơn phần văn bản, hiểu được tài năng của thế giới qua ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương. Chương trình ngữ văn hiện nay được biên soạn theo hướng tăng thực hành và gắn liền với đời sống. Nét cải tiến nổi bật là hướng tích hợp - Biểu hiện rõ nhất đó là việc sát nhập 3 phân môn mà lâu nay vẫn gọi là Văn - Tiếng việt - Tập làm văn vào một chỉnh thể là ngữ văn. Việc thay đổi tên gọi này ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung và phương pháp giảng dạy. Để dạy và học tốt môn ngữ văn theo tinh thần mới này, cả giáo viên và học sinh đều phải thực hiện tốt phương pháp kết hợp chặt chẽ 3 bộ phận: Văn bản, Tiếng việt, Tập làm văn, rèn luyện các kiến thức, kĩ năng của 3 phần. Chính vì những nét mới phổ biến đó nên qua thời gian giảng dạy Tiếng ở THCS tôi đã mạnh dạn áp ụng một số đổi mới phương pháp giảng dạy Tiếng Việt. Cụ thể là với lớp 6. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Dạy Tiếng việt 6 là dạy các em tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về văn bản tương ứng. Thực tế phân môn Tiếng việt trong chương trình cũ đã không làm được việc này. Hầu như chỉ làm nhiệm cung cấp kiến thức, hiểu được khái niệm và vận dụng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ mà thôi chứ chưa có hiện tượng quay trở lại và kết hợp nhuần nhuyễn trong Tập Làm Văn như ở chương trình SGK Ngữ văn 6 hiện nay. Chính vì những đặc điểm đó của bộ môn Ngữ văn cho nên việc đổi mới phương pháp dạy là lẽ đương nhiên mà tất cả giáo viên giảng dạy sách mới đều phải thực hiện. Sau đây là một số đổi mới phương pháp cụ thể trong từng phần: 1. Đối với mục: Mục tiêu cần đạt . Ngay trong phần mục tiêu cần đạt của Tiếng Việt hiện nay chúng ta cũng cần thể hiện sự đổi mới. Trong mục này bao giờ cũng có 3 phần: - Cho học sinh hiểu được bản chất của các định nghĩa kiến thức ngôn ngữ, tức là những khái niệm về từ, nghĩa của từ, từ loại, hoặc các biện pháp Nghệ thuật 2 - Những định nghĩa ngôn ngữ đó phải được đặt trong ngữ cảnh, tức là trong các tiết văn bản trước và sau đó và tích hợp với phần Tập Làm Văn. - Rèn kĩ năng sử dụng các định nghĩa ngôn ngữ đó trong sáng tạo văn bản và trong lời ăn tiếng nói hàng ngày. 2. Đối với mục: Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy - học. Trong phần này, cần phải thể hiện rõ nét hoạt động của thầy và của trò. Đối với thầy: Phải có sự chuẩn bị chu đáo, có sự nghiên cứu kĩ lưỡng về những nội dung kiến thức để nắm bắt chính xác, khoa học những đơn vị kiến thức đó. Nắm được những đơn vị kiến thức đó nằm ở những phần văn bản nào mà các em vừa học để đóng vai trò hướng dẫn 1 cách tích cực. Giáo viên có thể vận dụng nhiều cách đổi mới trong giảng dạy Tếng việt như: - Phương pháp phân tích ngôn ngữ để tìm ra đơn vị kiến thức. - Phương pháp rèn luyện theo mẫu. - Phương pháp giao tiếp Nhưng Phương pháp hiện nay tôi thường sử dụng là Phương pháp phân tích ngôn ngữ để tìm ra định nghĩa kiến thức. Giáo viên lựa chọn các ngữ liệu ngôn ngữ theo hướng của bài học, sau đó yêu cầu học sinh quan sát, phân tích chúng để tìm ra những đặc điểm của ngôn ngữ. Cách làm này kích thích sự sáng tạo của học sinh trong quá trình tìm hiểu ngôn ngữ, giúp các em hiểu sâu sắc và nhớ kĩ bài học hơn, đồng thời nó cũng có tác dụng rèn luyện tư duy cho học sinh. Phương pháp này áp dụng cho các bài cung cấp kiến thức mới ở lớp 6 như: Danh từ, động từ, tính từ, so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, hoán dụ, Sau đây là các thao tác cơ bản trong phân tích ngôn ngữ: a) Thao tác phân tích, phát hiện: (áp dụng thao tác này trong mục bài tập tìm hiểu bài). Trong SGK để hiểu soạn các ví dụ rất phù hợp và điển hình. Giáo viên ghi bảng phụ hoặc màn hình máy chiếu để học sinh quan sát ví dụ rồi thiết kế hệ thống câu hỏi tìm ra các đặc điểm chức năng của hiện tượng từ ngữ đó rồi học sinh tự rút ra nhận xét, kết luận về hiện tượng ngôn ngữ được học. b) Thao tác phân tích - chứng minh. Thao tác này giúp học sinh củng cố kiến thức vừa học sau khi đã tự mình tìm hiểu, khám phá các hiện tượng ngôn ngữ và sơ bộ có khái niệm về chúng. VD: Đối với bài " Hoán dụ, sau khi học sinh hoàn thành cho mình khái niệm: thế nào là hoán dụ. GV đưa ra câu thơ trong văn bản trước đó có hiện tượng hoán dụ để học sinh phát hiện, tự mình tìm ra phép hoán dụ trong văn bản. c) Thao tác phân tích phán đoán. 3 Thao tác này giúp học sinh củng cố và khắc sâu kiến thức. Đặc điểm của thao tác này là học sinh chỉ ra hiện tượng ngôn ngữ mà không nói tại sao. Với thao tác này giáo viên có thể đưa ra các bài tập trắc nghiệm với những phương nhanh, tư duy nhanh, chính xác và quyết đoán trong suy nghĩ. d) Thao tác phân tích tổng hợp. Môn Tiếng việt ngoài mục đích trang bị cho học sinh kiến thức về ngôn ngữ còn phải giúp các em trong thực tế giao tiếp từ những kiến thức đã học về ngôn ngữ. Thao tác này yêu cầu học sinh phải biết vận dụng những kết quả phân tích để cảm nhận được cái đẹp, cái hay của văn chương, đồng thời sử dụng 1 cách tích cực trong giao tiếp. Mọi kiến thức lí thuyết đều phải được ứng dụng để phục vụ cho việc giúp học sinh giao tiếp tốt hơn. hiểu chắc chắn về kiến thức Tiếng việt đưa ra. 3. Đối với mục: Luyện tập. Mục đích của phần này là để giúp học sinh củng cố, nắm chắc kiến thức đã được học ở phần trên. Vận dụngkiến thức đã học để làm các bài tập và giao tiếp cho nên GV có thể vận dụng nhều cách ra bài tập. Nhưng trước hết phải cho học sinh làm bài tập trong SGK. Bởi tất cả các bài tập này đều đi theo hướng phân tích, chứng minh; phân tích - phán đoán, và phân tích - tổng hợp ở dưới các dạng bài tập. Phát hiện, giải thích ý nghĩa của ngôn ngữ, so sánh dưới dạng bài tập trắc nghiệm đặc biệt là bài tập nửa sáng tạo và hoàn toàn sáng tạo. Sau đây tôi xin trình bày hướng thiết kế giáo án Bài Tiếng việt: Hoán Dụ. Phần A: Mục tiêu cần đạt. - Làm cho học sinh hiểu được thế nào là hoán dụ, các kiểu hoán dụ thường gặp. - Tích hợp với phần văn bản đã học trước đó như: Lượm, Mưa. - Tích hợp với phần Tập làm văn trong việc viết văn miêu tả sử dụng hoán dụ. - Bước đầu rèn kĩ năng phân tích tác dụng của hoán dụ trong văn bản. Phần B: Các hoạt động dạy - học của thầy và trò. Phần 1. - GV có sự chuẩn bị chu đáo về bảng phụ hoặc giấy trong, máy chiếu cùng tất cả các ngữ liệu đã ghi sẵn trên đó. - Chuẩn bị thêm một số văn bản có sử dụng phép hoán dụ hoặc miêu tả. 4 Phần 2. GV có thể kiểm tra bài cũ để nhắc lại kiến thức bài trước cho đảm bảo tính lôgic trong các bài học bằng bài tâp nhận diện để học sinh xác định. VD: Tìm biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ sau: Con sông dưới lòng sâu Con sông trên mặt nước Ơi con sông nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được. Sau khi học sinh tìm được biện pháp ẩn dụ ở hình ảnh: Sóng và bờ. GV hỏi: Đó là kiểu ẩn dụ nào? Ngoài ra còn những kiểu ẩn dụ nào khác nữa? Căn cứ vào câu trả lời của học sinh, GV dẫn vào bài mới bằng việc liên hệ sự giống nhau và khác nhau giữa biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ. * Đối với mục I: Bài tập. Để giúp học sinh hoàn thành khái niệm thế nào là hoán dụ, tác dụng của hoán dụ, GV sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để tìm ra kết luận. - GV treo bảng phụ ( VD1 trong SGK ). vd1: Áo nâu liền với áo xanh Nông thôn cùng với thị thành đứng lên. GV đặt ra hệ thông câu hỏi sau dẫn dắt nhằm hướng dẫn học sinh tự mình tìm ra khái niệm, tác dụng của hoán dụ. Phần nhận xét của HS, GV ghi sang cột bên phải để chuyển thành bài học thứ nhất: Hoán dụ là gì? - Sau đó, GV cho học sinh tìm hiểu thêm một số VD trong các văn bản đã học có sử dụng biện pháp hoán dụ để khắc sâu khái niệm cho các em. Hoặc GV treo bảng phụ đoạn thơ có chứa phép Hoán dụ để học sinh phát hiện. vd: Ngày Huế đổ máu Chú Hà Nội về Tình cờ chú cháu Gặp nhau hàng Bè. + Sau khi hoàn thành xong khái niệm Hoán dụ. GV chia nhóm học sinh tìm hiểu 1 số VD của GV trên bảng phụ có chứa phép Hoán dụ, Cố gắng các VD tiêu biểu cho 4 kiểu Hoán dụ để học sinh có thể nhận ra 4 kiểu hoán dụ thường gặp. Nhóm 1: vd1 bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm. 5 Nhóm 2: vd2 Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Nhóm 3: vd3 - Phần bài tập GV đưa ra hệ thống câu hỏi để học sinh tìm hiểu mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng được thay thế tên gọi cho nhau để tìm ra 4 mối quan hệ: - Lấy bộ phận gọi toàn thể - Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng - Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật - Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng. 4 nhận xét của các nhóm, GV ghi vào phần bảng bên phải để hình thành BH thứ 2: Các kiểu Hoán dụ thường gặp. Sau đó, các nhóm tiếp tục lấy những ví dụ trong câu văn bản trước có kiểu Hoán dụ trên. * Đối với mục 2: Bài học. - Trên cơ sở những nhận xét của Học sinh, Giáo viên đã ghi sẵn trên bảng, GV hỏi lại học sinh: Thế nào là hoán dụ? Có mấy kiểu hoán dụ - rồi GV kết luận lại thành khái niệm và ghi 2 đề mục lên trên mỗi đơn vị kiến thức: 1. Hoán dụ là gì? 2. Các kiểu hoán dụ thường gặp. Sau đó, GV đưa ra 1 ví dụ có chứa phép ẩn dụ (VD kiểm tra bài cũ) để học sinh phân biệt sự giống và khác nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ. đồ so sánh đúng để học sinh nhận biết và khắc sâu. Sau đó, GV cho 1 học sinh đọc phần ghi nhớ trong sách giáo khoa để khắc sâu thêm kiến thức về hoán dụ. * Đối với mục 3: Luyện tập - GV cho học sinh làm bài tập 1 bằng cách chia nhóm: GV hướng dẫn câu a, học sinh làm theo bảng phụ GV treo. Nhóm 1: câu b Nhóm 2: câu c Nhóm 3: câu d Thời gian dành cho mỗi nhóm là 3 phút. - GV cho từng nhóm lên trình bày phương án của nhóm, Rồi cho nhóm khác nhận xét và đánh giá. * Với bài tập 2: GV phải chuẩn bị trước 1 bản sơ đồ cần có các ô trống phân biệt sự giống và khác nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ. Sau đó, gọi 1 học sinh lên bảng điền vào. 6 Hướng dẫn các em khác ở dưới lớp hoàn thành vào vở. Phần 4: Củng cố. - GV cho học sinh nhắc lại khái niệm hoán dụ, tác dụng của hoán dụ, các kiểu hoán dụ thông qua hệ thống câu hỏi củng cố. Phần 5: Hướng dẫn về nhà. GV hướng dẫn hoàn thành các bài tập còn lại - Học thuộc phần ghi nhớ. - Xem trước bài: Tập làm thơ bốn chữ. GIÁO ÁN Tiết 103: Hoán Dụ A. Mục tiêu: - Giúp học sinh nắm được khái niệm hoán dụ, các kiểu hoán dụ. - Bước đầu rèn kĩ năng nhận biết, phân tích tác dụng của phép hoán dụ. Từ đó, biết so sánh với các phép tu từ khác như so sánh, nhân hoá, ẩn dụ. - Giáo dục tư tưởng học tập, trau dồi kiến thức kĩ năng Tiếng việt. B. Chuẩn bị: - Thầy : Bảng phụ - văn bản mẫu. - Trò: Đọc bài. C. Các hoạt động chủ yếu. 1. Tổ chức lớp: 2. Kiểm tra: - Ẩn dụ là gì? có mấy kiểu ẩn dụ. - chữa bài tập. 3. Bài mới: Ghi bảng. Hoạt động 1 I. Bài tập. GV treo bảng phụ. áo nâu, áo xanh gợi cho em liên tưởng đến ai? Vì sao lại liên tưởng như vậy? (lấy trang phục, dấu hiệu của họ để chỉ họ). Giữa áo nâu với người nông dân và áo xanh với người công 1. ví dụ1: áo nâu liền với áo xanh Nông thôn cùng với thị thành đứng lên 2. Nhận xét: áo nâu - người nông dân gần gũi áo xanh - người công nhân 7 nhân có mối quan hệ gì? ( quan hệ liên tưởng, gần gũi với nhau). Nông thôn và thành thị gợi cho em liên tưởng gì? Giữa chúng có mối quan hệ như thế nào? So sánh sự khác nhau của 2 cách diễn đạt như sau: GV treo bảng phụ câu văn: Câu văn này khác 2 câu thơ như thế nào? Vậy, việc gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng sự vật, hiện tượng khác khi chúng có quan hệ gần gũi có ý nghĩa gì? Vậy thế nào là hoán dụ? quan hệ gần gũi VD: Tất cả nông dân ở nông thôn và công nhân ở thành thị đều đứng lên. - Không có giá trị gợi hình, gợi cảm. * tác dụng: Ngắn gọn, tăng giá trị gợi hình, gợi cảm. Hoạt động 2 ( 15 phút) II. Bài học Qua VD - cho biết thế nào là hoán dụ? GV chia nhóm: Mỗi nhóm tìm 1 ví dụ có sử dụng phép hoán dụ. GV treo bảng phụ có 4 ví dụ. GV chia nhóm: 4 nhóm tìm hiểu mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng thay thế tên gọi cho nhau. - Nhóm 1: VD 1: áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay. - Nhóm 2: VD 2: Bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm. - Nhóm 3: 1. Hoán dụ là gì? - Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiệntượng, khái niệm bằng tên một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. 8 VD 3: Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. - Nhóm 4: VD 4: Cả làng quê, đường phố Cả già trẻ giá trai Đám càng đi càng dài GV cho từng nhóm nhận xét mối quan hệ? Việt Bắc . gọi sự vật. động . thể. nhiều tượng. VD 4: Cả làng quê, đường phố quê. vật bị chứa đựng. Vậy có mấy kiểu hoán dụ, đó là những kiểu nào? GV cho các nhóm lấy thêm VD để minh hoạ. ẩn dụ Hoán dụ Giốn g Gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác. Khác Dựa vào mối quan Dựa vào mối quan 2. Các kiểu hoán dụ. a, lấy 1 bộ phận để gọi toàn thể ( VD2 ). b, lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng. ( VD4 ) c, Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật. ( VD1 ) d, Lấy cái cụ thể gọi cái trừu tượng.( VD3 ) 3. Ghi nhớ( SGK) 9 So sánh sự giống và khác nhau giữa phép ẩn dụ và hoán dụ? HS trả lời. GV treo bảng phụ có sẵn đáp án GV cho học sinh củng cố lại kiến thức bằng cách đọc ghi nhớ trong SGk. đồng: - Về hình thức. - Về cách thức. - Về cảm giác. cận giữa: -Bộ phận - toàn thể -Vật chứa- Vật bị chứa -Dấu hiệu- Sự vật. -Cụ thể- trừu tượng. Hoạt động 3 ( 10 phút ) III. Luyện tập. GV hướng dẫn học sinh làm theo mẫu GV kẻ sẵn trong bảng phụ. GV hướng dẫn câu a. Câ u Từ ngữ chứa phép hoán dụ Kiểu quan hệ a Làng xóm- >người dân Vật chứa- Vật bị chứa 1. Bài tập 1 HS đứng tại chỗ làm câu a theo sự hướng dẫn của GV. - Nhóm 1: Làm câu b - Nhóm 2: Làm câu c - Nhóm 3: Làm câu d. GV cho học sinh làm, GV đánh giá. 2. Bài tập 2 GV hướng dẫn kẻ bảng theo mẫu giống phần bài học đã so sánh. 4.Củng cố. - Nhấn mạnh khái niệm hoán dụ, các kiểu hoán dụ. So sánh với phép ẩn dụ. Ví dụ. 5. Củng cố. - Làm bài tập 3 - Hoàn thành Bài tập 1,2. - Học thuộc ghi nhớ. - Chuẩn bị : Một bài thơ bốn chữ. 10 III. Kết thúc vấn đề: Trong chuyên đề này, tôi đã đưa ra 1 số phương pháp đổi mới việc dạy học Tiếng việt trong chương trình ngữ văn 6. Tôi đã chú ý tới tất cả các thao tác phân tích phát hiện, phân tích chứng minh, phân tích phán đoán và phân tích tổng hợp để học sinh nắm bắt tốt khái niệm ngôn ngữ, từ đó áp dụng cụ thể, trực tiếp vào phần cảm thụ văn bản và viết văn miêu tả. Để chuyên đề được hoàn thiện hơn, tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, áp dụng dạy thực nghiệm để các đồng chí rút kinh nghiệm, tìm ra phương pháp tối ưu hơn.

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Anh Thcs

Đổi mới PPDH là quá trình chuyển từ thầythuyết trình, phân tích ngôn ngữ – trò nghe và ghi chép thành PP mới đó là thầy là người tổ chức, giúp đỡ hoạt động học tập của hs, còn hs là người chủ động tham gia vào quá trình hoật động học tập.

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THCSCHỦ ĐỀ 1: Định hướng đổi mới PPDH môn tiếng Anh THCSQuan điểm đổi mới PPDH: Đổi mới PPDH là quá trình chuyển từ thầythuyết trình, phân tích ngôn ngữ – trò nghe và ghi chép thành PP mới đó là thầy là người tổ chức, giúp đỡ hoạt động học tập của hs, còn hs là người chủ động tham gia vào quá trình hoật động học tập.2. Vận dụng 1 số PPDH theo định hướng đổi mới a. PP Ngữ pháp – Dịch: (Grammar – Translation) Ưu điểm:Hs rèn luyện kỹ về ngữ pháp, tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.Hs nắm nhiều cấu trúc, thuộc đoạn văn.Hs đọc, hiểu nhanh các văn bản.Hạn chế: – Hs không giao tiếp, thầy nói nhiều, trò thụ động – Hoạt động dạy học diễn ra 1 chiều, khả năng sáng tạo bị hạn chế.* Lưu ý: – Ở 1 chừng mực nào đó, GV vẫn áp dụng PP truyền thống này. Như khi kiểm tra sự hiểu chính xác về 1 văn bản, 1 cấu trúc phức tạp khác với tiếng Việt. – Nhưng không nên tiến hành thường xuyên vì sẽ tạo cho hs phải tư duy qua tiếng mẹ đẻ.b. PP Nghe – nói: (Audiolingual Method) * Ưu điểm: – Có hiệu quả với những người mới học, đặc biệt là trẻ em. – Hình thành ở các em phản xạ tự nhiên. * Hạn chế:Việc áp dụng những gì đã học được vào thực tế là hơi khó.Tuy hs có thể học và nhớ ngay trên lớp, nhưng các em cũng chóng quên, không diễn đạt được diều định nói sau 1 thời gian dài ht.Lưu ý:Lớp học không nên quá đông.Phòng học có thiết bị nghe chuẩn.GV phải có nhiều tranh ảnh để tạo tình huống giao tiếp.c. PP Giao tiếp: (Communicative Approach) * Ưu điểm: – Có ưu điểm hơn hẳn vì PP này coi việc hình thành & phát triển 4 kỹ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết là mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học. – Thực sự giúp hs có khả năng sữ dụng tiếng Anh để giao tiếp. * Hạn chế: – Nhấn mạnh việc hình thành các kỹ năng nên kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm thích đáng. – Một số hs cản thấy khó giao tiếp khi các em không nắm chắc được hệ thống qui tắc ngôn ngữ. * Lưu ý: – GV chỉ là người hướng dẫn, tổ chức, hs giữ vai trò chủ đạo. Hs phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi. – Lớp học không quá đông, có đầy đủ thiết bị nghe nhìn. Việc kiểm tra đánh giá kết quả ht nên nhấn mạnh vào 4 kỹ năng và 1 phần kiến thức ngôn ngữ.3. Giải pháp đổi mới PPDH tiếng Anh ở trường THCSNgày nay, người ta đặc biệt quan tâm việc áp dụng PPGiao tiếp vào quá trình dạy tiếng Anh, GV luôn coi trọngviệc hình thành 4 kỹ năng; đồng thời việc cung cấp kiếnthức ngôn ngữ cũng rất quan trọng, góp phần hình thànhphát triển các kỹ năng. Việc áp dụng PP giao tiếp có sự kết hợp với các PPDH khác trong quá trình giảng dạy được thực hiện như sau:4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) đều được quan tâm và phối hợp trong các bài tập và hoạt động trên lớp.

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Anh Cấp Thcs

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THCS2008CHỦ ĐỀ 1: Định hướng đổi mới PPDH môn tiếng Anh THCSQuan điểm đổi mới PPDH: Đổi mới PPDH là quá trình chuyển từ thầy thuyết trình, phân tích ngôn ngữ – trò nghe và ghi chép thành thầy là người tổ chức, giúp đỡ hoạt động học tập của hs, còn hs là người chủ động tham gia vào quá trình hoạt động học tập.Vận dụng 1 số PPDH theo định hướng đổi mớiPP Ngữ pháp – Dịch: (Grammar – Translation) Ưu điểm:Hs rèn luyện kỹ về ngữ pháp, tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.Hs nắm nhiều cấu trúc, thuộc đoạn văn.Hs đọc, hiểu nhanh các văn bản. Hạn chế:Hs không giao tiếp, thầy nói nhiều, trò thụ động.Hoạt động dạy học diễn ra 1 chiều, khả năng sáng tạo bị hạn chế.Lưu ý:

Ở 1 chừng mực nào đó, GV vẫn áp dụng PP truyền thống này. Như khi kiểm tra sự hiểu chính xác về 1 văn bản, 1 cấu trúc phức tạp khác với tiếng Việt.Nhưng không nên tiến hành thường xuyên vì sẽ tạo cho hs phải tư duy qua tiếng mẹ đẻ.b. Phương Pháp Nghe – nói: (Audiolingual Method) Ưu điểm:Có hiệu quả với những người mới học, đặc biệt là trẻ em.Hình thành ở các em phản xạ tự nhiên. Hạn chế:Việc áp dụng những gì đã học được vào thực tế là hơi khó.Tuy hs có thể học và nhớ ngay trên lớp, nhưng các em cũng chóng quên, không diễn đạt được điều định nói sau 1 thời gian dài học tập.Vận dụng 1 số PPDH theo định hướng đổi mới (tt)Lưu ý:

Lớp học không nên quá đông.Phòng học có thiết bị nghe chuẩn.GV phải có nhiều tranh ảnh để tạo tình huống giao tiếp.c. PP Giao tiếp: (Communicative Approach) Ưu điểm:Có ưu điểm hơn hẳn vì PP này coi việc hình thành & phát triển 4 kỹ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết là mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học. Thực sự giúp hs có khả năng sử dụng tiếng Anh để giao tiếp. Hạn chế:Nhấn mạnh việc hình thành các kỹ năng nên kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm thích đáng. Một số hs cản thấy khó giao tiếp khi các em không nắm chắc được hệ thống qui tắc ngôn ngữ.Vận dụng 1 số PPDH theo định hướng đổi mới (tt) Lưu ý:

GV chỉ là người hướng dẫn, tổ chức, hs giữ vai trò chủ đạo. Hs phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi.Lớp học không quá đông, có đầy đủ thiết bị nghe nhìn. Việc kiểm tra đánh giá kết quả ht nên nhấn mạnh vào 4 kỹ năng và 1 phần kiến thức ngôn ngữ.Giải pháp đổi mới PPDH tiếng Anh ở trường THCS Ngày nay, người ta đặc biệt quan tâm việc áp dụng PP giao tiếp vào quá trình dạy tiếng Anh, GV luôn coi trọng việc hình thành 4 kỹ năng; đồng thời việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ cũng rất quan trọng, góp phần hình thành phát triển các kỹ năng.

Việc áp dụng PP giao tiếp có sự kết hợp với các PPDH khác trong quá trình giảng dạy được thực hiện như sau: 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) đều được quan tâm và phối hợp trong các bài tập và hoạt động trên lớp.

Kinh Nghiệm Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Trường Thcs

Kinh nghiệm :Cách tạo tình huống có vấn đề trong giảng dạy tiếng việt.

A. Đặt vấn đề .Quan niệm về tình huống có vấn đề trong tiếng việt . * Trước khi đến trường học sinh đã có một số vốn tiếng việt nhất định, nhiệm vụ của giáo viên ngữ văn không phải là cung cấp cho học sinh tri thức hoàn toàn mới . Cho nên để giảng dạy một giờ tiếng việt thành công giáo viên phải vận dụng tổng hợp , sáng tạo các phương pháp , phương tiện dạy học . Trong những năm thực hiện cải cách giáo dục , việc dạy môn tiếng việt là phải tạo ra được tình huống có vấn đề , nghĩa là làm sao để lý thuyết mới về ngôn ngữ học, về tiếng việt , về ngữ pháp văn bản không phải là kiến thức thuần tuý lý thuyết hiện đại mà thực sự được ứng dụng vào hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh trong từng tiết tiếng việt . Như vậy các bài dạy tiếng việt đều phải đưa vào tình huống có vấn đề đó là thử thách cao nhất , khó khăn nhất đối với các nhà sư phạm , dạy như thế nào để học sinh có hệ thống kiến thức , rèn được kỹ năng thực hành bài tập tiếng việt vào văn bản hàng ngày . 2. Lý do chọn đề tài . a, Cơ sở lý luận . + Với ánh sáng của của lý thuyết hiện đại về ngôn ngữ học , xác lập được hệ thống lý luận , kỹ năng cần rèn luyện và tương ứng với nó là một hệ thống bài tập , một hệ thống thao tác dẫn dắt học sinh theo tinh thần cải tiến phương pháp dạy và học tiếng việt nói riêng và ngữ văn nói chung nhằm ” phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của thày và trò trong giờ ngữ văn” . + Cho đến nay rất nhiều các công trình nghiên cứu về tiếng việt hiện đại ,về phương pháp dạy tiếng việt theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học , xóa bỏ tình trạng thụ động của học sinh , thày đọc trò chép …. b, Cơ sở thực tiễn : Qua nhiều năm giảng dạy tiếng việt ở các lớp :6,7,8,9 .ở bài viết này tôi chỉ đề cập đến một vấn đề nhỏ trong giờ dạy tiếng việt ở trường THCS . Đó là ” Cách tạo tình huống có vấn đề trong giờ giảng dạy tiếng việt”. Thực tế hiện nay học sinh rất lười soạn bài và làm bài tập tiếng việt , một thói quen rất xấu là chép bài soạn ở các loại sách để học tốt ngữ văn ,và các sách tham khảo , sách nâng cao , .Học sinh ỷ lại vào sách thiếu suy nghĩ độc lập khi làm bài tập tiếng việt , nếu ra đề kiểm tra thì kha năng nhận biết các đơn vị kiến thức trong ngữ liệu đã học rất thấp , có thể do chưa tạo được tình huống có vấn đề trong tiếng việt nên các em không vận dụng vào được những tình huống tương tự , nên thường là không làm được bài tập đúng nếu có tình huống khác bài học trong sách giáo khoa .

***********************Từ những vấn đề trên tôi xin nêu một số hướng giải quyết vấn đề và những kết quả cụ thể , qua một số biện pháp chính nhằm thực hiện bài giảng tiếng việt một cách hiệu qu

Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Trong Giảng Dạy Môn Toán Ở Bậc Thcs Tổ Tự Nhiên Trường Thcs Gia Hoà

TRONG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN Ở BẬC THCS TỔ TỰ NHIÊN TRƯỜNG THCS GIA HOÀ I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA CHUYÊN ĐỀ: Qua chuyên giúp giáo viên giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, giáo viên nắm được việc đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin, bản đồ tư duy trong dạy học. Từ đó từng bước nâng cao chất lượng nâng cao chất lượng dạy và học ở các đơn vị. Từ mục đích yêu cầu của chuyên đề, được sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo Gia Viễn, tổ khoa học tự nhiên trường THCS Gia Hoà tổ chức chuyên đề: “Đổi mới phương pháp trong giảng dạy môn Toán bậc THCS” với nội dung sau: II. NỘI dung: Cơ sở lý luận: XuÊt ph¸t tõ môc tiªu Gi¸o dôc trong giai ®o¹n hiÖn nay lµ ph¶i ®µo t¹o ra con ng­êi cã trÝ tuÖ ph¸t triÓn, giÇu tÝnh s¸ng t¹o vµ cã tÝnh nh©n v¨n cao. §Ó t¹o ra líp ng­êi nh­ vËy ph¶i ¸p dông ph­¬ng ph¸p d¹y häc hiÖn ®¹i ®Ó båi d­ìng cho häc sinh n¨ng lùc t­ duy s¸ng t¹o, n¨ng lùc gi¶i quyÕt vÊn ®Ò. Ph¶i ®æi míi ph­¬ng ph¸p d¹y häc, kh¾c phôc lèi truyÒn thô mét chiÒu, rÌn luyÖn thµnh nÒ nÕp t­ duy s¸ng t¹o cña ng­êi häc, tõng b­íc ¸p dông c¸c ph­¬ng ph¸p tiªn tiÕn, ph­¬ng tiÖn hiÖn ®¹i, ph­¬ng ph¸p dïng b¶n ®å t­ duy vµo qu¸ tr×nh d¹y häc, ph¸t huy tÝnh tÝch cùc, tù gi¸c chñ ®éng s¸ng t¹o cña häc sinh, rÌn luyÖn kü n¨ng vËn dông kiÕn thøc vµo thùc tiÔn t¸c ®éng ®Õn t×nh c¶m ®em l¹i niÒm vui høng thó häc tËp cho häc sinh, ®Æc biÖt lµ m«n To¸n. Cơ sở thực tiễn: Trong ch­¬ng tr×nh Gi¸o dôc hiÖn nay nh×n chung tÊt c¶ c¸c m«n häc ®Òu cho chóng ta tiÕp cËn víi khoa häc hiÖn ®¹i vµ khoa häc øng dông. Các môn học đều đòi hỏi tư duy sáng tạo và hiện đại của học sinh. Đặc biệt là môn Toán, nó đòi hỏi tư duy rất tích cực của học sinh, đòi hỏi học sinh tiếp thu kiến thức một cách chính xác, khoa học và hiện đại. Vì thế để giúp các em học tập môn toán có kết quả tốt giáo viên không chỉ có kiến thức vững vàng, một tâm hồn đầy nhiệt huyết, mà điều cần thiết là phải biết vận dụng các phương pháp giảng dạy một cách linh hoạt, sáng tạo truyền thụ kiến thức cho học sinh một cách dễ hiểu nhất. Chương trình toán rất rộng và đa dạng, các em được lĩnh hội nhiều kiến thức. Trong đó ước và bội là 2 trong số nhiều khái niệm cơ bản nhất của số học tuy nhiên sự cơ bản luôn có nhiều sự thú vị riêng của nó. Những người học luôn luôn phải nắm vững vấn đề này, không vì sự ứng dụng rộng rãi của nó mà còn là nền tảng xây dựng nên những vấn đề phức tạp hơn. Ngay từ những ngày đầu mới cắp sách đến trường, học sinh đã được làm những phép chia hết. Lên lớp 6 đó là khái niệm Ước và Bội và cách tìm từ đơn giản đến phức tạp. Qua nhiều năm giảng dạy chúng tôi thấy học sinh vẫn còn nhiều lúng túng trong việc tìm ước và bội của một số, hay cách tìm BCNN hay ƯCLN dẫn đến việc sau này khi qui đồng mẫu các phân số các em không biết tìm ra mẫu thức chung chính là BCNN. Nên ngay từ đầu khi học phần này giáo viên cần cho các em hiểu sâu sắc khái niệm ước và bội và cách tìm ước và bội đơn giản nhất. Chính vì thế, việc giúp cho học sinh làm được dạng toán này là một nhiệm vụ rất khó khăn đối với giáo viên. Cho nên nội dung chuyên đề của chúng tôi lần này là bàn đến việc đổi mới và phối hợp tốt các phương pháp giảng dạy trong một tiết số học cụ thể nhằm kích thích tính tích cực hoạt động và gây hứng thú học tập cho học sinh . 3. Giải quyết vấn đề: a- Các yêu cầu chung đối với các phương pháp dạy học toán. *Gắn liền việc dạy kiến thức, kĩ năng với việc hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ của học sinh. *Phát huy cao độ tính tư duy tích cực học tập của học sinh, biết kích thích học sinh có hứng thú trong việc học tập môn Toán. *Dạy và học là hai mặt của một quá trình thống nhất mà cái đích là kết quả học tập của học sinh. Giáo viên phải làm sao hướng dẫn, điều khiển, thúc đẩy việc học tập của học sinh. Kịp thời uốn nắn, và hướng dẫn các em trong việc học tập. *Trong tiết dạy giáo viên phải quan tâm hướng dẫn học sinh yếu, kém: Đối với những đối tượng này thì các câu hỏi, bài tập ở mức độ thấp hơn so với các học sinh khác. Còn đối tượng khá giỏi giáo viên phải có yêu cầu kiến thức cao hơn, ra bài tập nâng cao để phát triển trí tuệ. Tất cả các vấn đề trên đề coi như là căn cứ để lựa chọn và phối hợp tốt các phương pháp dạy – học trong một tiết học cụ thể ở bộ môn toán THCS. Tuy nhiên việc lựa chọn và phối hợp phải dựa trên các căn cứ sau : -Mục tiêu dạy học. -Nội dung dạy học. -Đối tượng dạy học. -Phương tiện dạy học. -Năng lực và trình độ của giáo viên. -Hoạt động nhận thức của học sinh. b-Các biện pháp cụ thể : Theo chúng tôi để đạt được hiệu quả cao trong một tiết học, thì chúng ta phải biết lựa chọn và phối hợp các phương pháp sao cho thật phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc trưng của từng bài học, tiết học cụ thể, làm sao tạo ra được tính tích cực, hứng thú học tập của học sinh, từ đó tìm tòi và phát hiện các kiến thức mới giúp học sinh nhớ lâu hơn, nắm bài học tốt hơn, sâu sắc hơn. Một tiết học có thành công hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào phương pháp dạy học của giáo viên, còn về nội dung thì căn bản đã được qui định trong chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy phụ thuộc chủ yếu vào khả năng điều kiện dạy học cụ thể. Phương pháp dạy học làm phong phú nội dung dạy học và nếu phương pháp dạy phù hợp với nội dung thì sẽ làm tăng thêm sự khắc sâu kiến thức trong tư duy của mỗi học sinh. Vì vậy người giáo viên phải biết lựa chọn và phối hợp một cách hết sức hợp lí các phương pháp giảng dạy phát huy tối đa các ưu điểm của từng phương pháp, từ đó tạo ra một tiết học sôi nổi, hào hứng, huy động được toàn bộ sức lực của học sinh trong giờ học, tạo ra quá trình dạy học ngày càng đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Ví dụ : Dạy minh hoạ-Bài “ƯỚC VÀ BỘI” (Toán 6 – Tập 1) Tiết 24: ƯỚC VÀ BỘI I- MỤC TIÊU: – Học sinh nắm được định nghĩa ước và bội của một số, ký hiệu tập hợp ước, các bội của một số. – Học sinh biết kiểm tra một số có là ước, bội của một số cho trước không. – Học sinh biết xác định ước và bội trong các bài toán thực tế. II- CHUẨN BỊ – Giáo viên: Soạn bài, máy chiếu. – Học sinh: Ôn các dấu hiệu chia hết, sách giáo khoa, đọc trước bài mới. III- TIẾN TRÌNH: Kiểm tra.:(3’) – Gv: chiếu câu hỏi Khi nào số tự nhiên a chia hết cho số tự nhiên b. – Gv: Chốt, chiếu kq, đánh giá cho điểm. B- Bài mới: 1- Ước và bội: (10’) GV: Giới thiệu khái nhiệm Bội, Ước GV: Chiếu ? HS làm ? 1 a b Û a là bội của b, b là ước của a ? 1 HS trả lời miệng tại chỗ. HS nhận xét, giáo viên ghi kết quả. 2- Cách tìm ước và bội: (15’) GV giới thiệu kí hiệu Ư(a),B(a) Tập hợp các ước của a kí hiệu là Ư(a) Tập hợp các bội của a kí hiệu là B(a) ? Em hãy tìm các bội nhỏ hơn 30 của 7 là số nào ? Vậy tìm bội số của một số khác 0 bằng cách nào HS làm ?2 VD1: Các bội < 30 của 7 là:0; 7; 14; 21; 28. ? 2 Tìm x Î N mà x là B(8) và x < 40 x= 0; 8; 16; 24; 32. VD2: Tìm tập hợp Ư(8) Chia 8 cho 1; 2; 3; …; 8 ? Vậy ta thấy 8 cho những số nào Ta thấy 8 1; 2; 4; 8 Tìm Ư(8) = ? Ư(8) = {1; 2; 4; 8} ? 3. Ư(12) = {1; 2; 4; 3; 6; 12} – Học sinh đọc ? 4 ? 4. Ư(1) = 1 B(1) = {0; 1; 2; 3; …} Hs tìm ước và một vài bội của 1 * Chú ý: ? Vậy số 1 có mấy Ư là số nào ? Số 1 là Ư của những số tự nhiên nào Số 1 chỉ có 1 ước là 1 – Số 1 là Ư của mọi số tự nhiên GV: Chiếu BT 111 HS làm BT 111/sgk C- Củng cố: (15’) ? Khi nào số tự nhiên a là bội của b. ? Cách tìm ước, bội của một số a. Bài tập 111(SGK) a) B(4) = {8; 20} b) Tập hợp B(4) < 30 là: B(4)= {0; 4; 8; 12; 16; 20; 24; 28}. c, B(4)= k.4 ( kÎN) E- Hướng dẫn: (2’) GV: Chiếu III. KẾT QUẢ VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP TRONG DẠY HỌC: -Việc lựa chọn các phương pháp dạy học và đổi mới các phương pháp đó trong một tiết dạy là một việc làm hết sức quan trọng, nó quyết định đến chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh. Vì vậy muốn lựa chọn và phối hợp tốt các phương pháp dạy học trong một tiết học thì người giáo viên phải nắm chắc được mục tiêu, nội dung và đối tượng dạy học đồng thời bản thân giáo viên còn phải cần rèn luyện kĩ năng thích ứng linh hoạt, sáng tạo nghệ thuật trong việc truyền đạt ngôn ngữ toán học trong một lượng tri thức phong phú. Giáo viên phải biết khai thác triệt để dụng ý của sách giáo khoa, tạo ra một không khí học tập hào hứng, sôi nổi. -Từ những việc làm cụ thể theo phương pháp chúng tôi đã nêu ở trên trong những năm học qua chúng tôi đã áp dụng cách làm này vào môn Toán giảng dạy tại trường THCS Gia Hoà đã đạt kết quả rất khả quan và thành công đáng kể. -Chuyên đề này được chúng tôi thực hiện tại trường và có thể áp dụng cho tất cả các khối lớp ở bậc THCS. Gia Hoà, ngày 25 tháng 9 năm 2011. Tổ trưởng tổ tự nhiên Bùi Thị Hậu

Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Ngữ Văn

Giờ học ngữ văn tại Trường THPT Trưng Vương. Ảnh: P.N.Q

Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) trong môn ngữ văn không có sự hạ thấp vai trò của giáo viên (GV) mà ngược lại GV chính là người tổ chức, thiết kế, điều hành giờ học. Đây là phương pháp hạn chế tối đa lối dạy lý thuyết một chiều, chuyển quá trình thuyết giảng của GV thành những cuộc trao đổi, đàm thoại giữa thầy và trò, giữa học sinh (HS) và HS giúp các em tự tìm hiểu và đánh giá được mức độ tìm hiểu bài học của mình. Dạy tích cực – Học tích cực

Trước hết GV phải biết thiết kế tổ chức HS thực hiện các hoạt động học tập ngữ văn nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kỹ năng nghe – nói – đọc – viết, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương. Thường xuyên điều chỉnh các hoạt động học tập của HS, động viên và luôn tạo điều kiện cho các em tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận, giải mã và sản sinh văn bản. Song song đó, GV phải biết sử dụng và hướng dẫn HS sử dụng các thiết bị đồ dùng và ứng dụng CNTT để khai thác và vận dụng kiến thức ngữ văn có hiệu quả. Bằng mọi cách GV phải tạo điều kiện cho HS rèn luyện kỹ năng học tập tích cực, chủ động, hình thành thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trong giảng dạy cần chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nghe – nói – đọc – viết mà HS đã có.

Về phía HS đòi hỏi các em luôn tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện thái độ và tình cảm đúng đắn. Có thể mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân trước các vấn đề của bộ môn ngữ văn, tiếng Việt, tập làm văn. Đánh giá và tự đánh giá các quan điểm của bản thân, của nhóm. Tích cực sáng tạo trong vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn học tập bộ môn. HS biết chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập bộ môn ngữ văn phù hợp với năng lực và điều kiện học tập của cá nhân. Biết sưu tầm và tìm hiểu các tài liệu văn, tiếng Việt, tập làm văn bằng các hình thức khác nhau. Có ý thức sử dụng đồ dùng học tập và các ứng dụng của CNTT để học tập bộ môn ngữ văn có hiệu quả.

Để đảm bảo tính khoa học cho các giờ học ngữ văn thì sự vận dụng các PPDH phải thực sự linh hoạt sáng tạo. Đổi mới cách dạy không có nghĩa là GV phải từ bỏ phương pháp giáo dục truyền thống để độc tôn cải tiến hoặc áp dụng một cách máy móc những PPDH từ các nước khác. Cũng không thể hiểu một cách chung chung về đổi mới PPDH là thầy giảng một nửa còn một nửa HS tự làm lấy. Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái HS đã có đến cái HS cần có, từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách vở và quay trở về phục vụ cuộc sống. So với cách dạy truyền thống, sự vận dụng PPDH trong giờ ngữ văn đã có sự thay đổi cơ bản về chất: từ thông báo, tái hiện sang tổ chức cho HS tiếp nhận, cảm thụ; từ dạy học tính chất tĩnh sang tính chất động…

Phương pháp dạy học đặc thù

Các văn bản trong chương trình ngữ văn THCS đều được chọn lọc rất kỹ và là những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc. Nó giúp HS nhận thức cuộc sống, đưa đến những bài học, những cảm xúc thẩm mỹ cao đẹp, sâu lắng trong tâm hồn và tình cảm con người. Những điều này lại phụ thuộc vào bề dày vốn sống, tri thức kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Do vậy tiếp nhận văn bản là một hệ thống mở và kết quả tiếp nhận ở mỗi HS có thể khác nhau, thậm chí có nhiều mới lạ chưa hẳn trùng khớp với dự kiến của GV. Dạy văn thực chất là giúp cho HS biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm của mình. Chính vì thế đổi mới PPDH còn có nghĩa là tôn trọng và đề cao những tìm tòi, khám phá, cảm thụ phân tích văn bản tích cực của HS. Đây cũng là một biểu hiện của tính cá thể hóa và sáng tạo trong tiếp nhận văn bản.

– Phương pháp đọc sáng tạo: Đây là phương pháp rất quan trọng đối với hoạt động tiếp nhận văn bản bao gồm cả đọc, hiểu và cảm thụ. Hoạt động đọc sáng tạo không chỉ là đọc thuần túy mà bao gồm cả sự tổ chức hướng dẫn HS đọc có vận động kết hợp tư duy logic với tư duy hình tượng, giọng đọc và điệu bộ.

– Phương pháp dùng lời có nghệ thuật (còn gọi là phương pháp diễn giảng, bình giảng, truyền thụ): Là cách dạy học truyền thống theo mô hình truyền thông tin một chiều, được sử dụng trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương hay cung cấp kiến thức mới.

(GV Trường THCS Cầu Kiệu, Q. Phú Nhuận, TP.HCM)

Không thể hiểu một cách chung chung về đổi mới PPDH là thầy giảng một nửa còn một nửa HS tự làm lấy. Sự vận dụng các PPDH phải đi từ cái HS đã có đến cái HS cần có; từ thực tiễn cuộc sống của HS tới kiến thức trong sách vở và quay trở về phục vụ cuộc sống.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Ở Thcs trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!