Xu Hướng 3/2024 # Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Vần Lớp 1 # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Vần Lớp 1 được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1THAM LUẬN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCPHÂN MÔN HỌC VẦN LỚP 1PHẦN 1

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC VẦN LỚP 12I/VAI TRÒ CỦA PHÂN MÔN HỌC VẦN TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC Phân môn Học Vần nằm trong hệ thống các phân môn của môn Tiếng Việt, nó đóng vai trò then chốt và nền tảng cho các phân môn khác và kể cả các môn học khác. Nhiệm vụ của phân môn Học Vần là cung cấp cho học sinh kiến thức về ngữ âm và chữ viết, từ vựng, ngữ pháp và văn học. Về kĩ năng, Học Vần rèn cho HS các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói. 3 Với đặc thù về kiến thức và kĩ năng như thế cho nên trong dạy học phân môn Học Vần, người dạy không những trang bị cho mình một kiến thức vững chắc về câu từ, về chữ viết mà còn cả về khả năng xữ lí tình huống trong tiết dạy. Đối với HS lớp 1 mọi hoạt động trong lớp đều mới mẻ đối với các em. Do vậy tính kiên trì và tỉ mỉ của GV sẽ giúp HS nâng cao được hiệu quả học tập.4Những khó khăn trong việc dạy học vần – Tình trạng học sinh chưa qua mẫu giáo nên tiếp thu bài kém. – Phụ huynh lơ là trong việc giúp đỡ con em học ở nhà. – Do đặc thù của HS tiểu học nói chung, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em rất ham thích theo dõi bài khi GV sử dụng tranh ảnh hay đồ dùng dạy học khác trong tiết dạy. Ở lớp 1 Đồ dùng dạy học được cấp trên cấp là rất ít so với nhu cầu cần sử dụng của GV dạy lớp 1. Mặc khác, tranh ảnh, trang thiết bị dạy học đã qua nhiều năm sử dụng đã hư hỏng nhiều mà chưa được cấp trên bổ sung.5 – Việc lồng ghép cho HS sử dụng bộ đồ dùng học vần còn gặp nhiều khó khăn, một số GV còn bỏ qua việc thực hành của HS trên đồ dùng. – GV thường sa đà, mất thời gian nhiều ở tiết 1 (dạy không đủ thời gian). – Tổ chức phần luyện nói cho học sinh gặp nhiều khó khăn (Do học sinh ngại nói, các em còn nhút nhát trong những ngày đầu…). Hơn nữa, GV không có tranh ảnh trực quan nên gặp nhiều khó khăn khi cho HS nói trước lớp nhất là ở các tiết ôn tập. – GV gặp khó khăn trong giải nghĩa từ (những từ ở SGV không giải nghĩa).6 – Một số GV chưa nắm vững cấu tạo nét của từng con chữ nên việc hướng dẫn học sinh đôi khi chưa rõ và thiếu chính xác. Mặc khác do chữ viết trên bảng của GV không đẹp nên không tạo được hứng thú cho HS. – Trong tiết dạy GV chưa đa dạng các hình thức tổ chức đọc cho học sinh nên tiết học rất khô khan, HS tham gia trong tiết học rất thụ động. – Tình trạng HS đọc vẹt cũng là điều đáng lo cho các GV chủ nhiệm.7 – Do ảnh hưởng phương ngữ một số GV gặp nhiều khó khăn trong việc phát âm mẫu để HS đọc theo, đặc biệt là những vần học ở các bài cuối học kì 1 và đầu học kì 2. Về phía học sinh các em thường phát âm sai ở những vần có tr, r, v … ở đầu và t, n … ở cuối nhưng GV chưa quan tâm chỉnh sửa dẫn đến dần dần trở thành thói quen cho HS. – Một số GV chưa có tính mền dẽo đối với HS, hay quát tháo trong giờ học làm cho các em không tự tin, không mạnh dạn phát biểu trong giờ học. 8I/ NỘI DUNG PHÂN MÔN HỌC VẦN – Gồm 103 bài, trong đó : +Tập 1 : 83 bài (Học kì 1 đến bài 76). +Tập 2 : 20 bài (Học kì 2 đến tuần 24).PHẦN 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẦN LỚP 19 – Từ bài 1 đến bài 27 là các bài học về âm. – Từ bài 29 đến 90 là các bài học về vần. – Từ bài 90 đến bài 103 là các bài ôn về vần có âm đầu là u hoặc o.10II/ Một số phương pháp thường sử dụng trong phân môn học vần lớp 1

14 Đặc biệt nên tránh câu hỏi để trả lời “Có” hoặc “Không”. GV cần dành thời gian cho HS suy nghĩ, trao đổi rồi mới trả lời câu hỏi.5- Phương pháp Trò chơi: Giúp HS hứng thú, tham gia tích cực vào bài học.

15 *Cần chú ý : – GV dễ sa đà vào việc chơi mà không đút kết được nội dung của bài học. – Hình thức chơi cần đa dạng, giúp cho HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động. – Luật chơi cần đơn giản để các em dễ nhớ, dễ thực hiện. – Khi tổng kết trò chơi GV dùng biện pháp tuyên dương và động viên là chủ yếu.16QUY TRÌNH DẠY HỌC VẦN LỚP 1Dạng 1: Làm quen với âm và dấu thanh(6 Bài đầu)1) Kiểm tra bài cũ:2) Dạy học bài mới: a/ Giới thiệu bài: b/Dạy chữ ghi âm và dấu ghi thanh mới (trọng tâm).17 – Hướng dẫn học sinh ghép chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới để đọc thành tiếng. – Hướng dẫn học sinh tập phát âm âm, dấu thanh, tiếng vừa ghép.NGHỈ GIỮA TIẾT – Giáo viên hướng dẫn học sinh tập viết chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới vào bảng con.TIẾT 2 c/ Luyện tập: Luyện đọc lại nội dung tiết 1.

18 d/ Luyện viết chữ ghi âm , dấu ghi thanh mới (trong vở tập tô). NGHỈ GIỮA TIẾT e/ Luyện nghe – nói (chủ yếu là giúp học sinh làm quen với không khí học tập mới, không rụt rè, nhút nhát) 3) Củng cố , dặn dò19Dạng 2: Dạy chữ ghi âm, vần mới

TIẾT 11) Kiểm tra bài cũ:2) Dạy học bài mới: a/ Giới thiệu bài: b/ Dạy âm (vần) mới: – Dạy phát âm hoặc đánh vần vần mới. – Hướng dẫn học sinh ghép âm, vần, đánh vần và đọc trơn tiếng khóa và từ khóa.NGHỈ GIỮA TIẾT20 – Giáo viên viết mẫu, hướng dẫn HS viết bảng con. – Hướng dẫn HS đọc từ (từ ngữ) ứng dụng.TIẾT 2 c/ Luyện tập: – Luyện đọc (Bằng nhiều hình thức: cá nhân, nhóm, cả lớp, đọc tiếp nối, đọc đồng thanh). + Đọc lại nội dung tiết 1. + Đọc câu ứng dụng.NGHỈ GIỮA TIẾT21 – Luyện viết chữ ghi âm, vần, tiếng mới: Tùy theo đối tượng HS và thời gian cho phép, GV có thể quy định thời gian, dung lượng viết tại lớp từ 1 đến 3 dòng. – Luyện nghe – nói: Không yêu cầu học sinh nói những câu chứa âm, vần mới học để đảm bảo phát triển lời nói tự nhiên, phong phú cho các em. Giáo viên cần chú ý đến những học sinh yếu, rụt rè, nhút nhát. Có thể định hướng bằng những câu hỏi gợi mở để các em nói được những câu đơn giản.22 Căn cứ vào khả năng hoàn thành 2 kĩ năng đọc, viết vần, tiếng, từ ngữ mới của đa số học sinh trong lớp mà giáo viên cân nhắc để dành thời gian cho luyện nói khoảng từ 3 đến 7 phút.3) Củng cố – dặn dò:23Dạng 3: Dạy bài ôn tập

1) Kiểm tra bài cũ: 2) Dạy học bài ôn: (TIẾT 1) a/ Ôn tập theo bảng – sơ đồ trong sách giáo khoa. *Bài ôn về âm 2 bảng. *Bài ôn về vần 1 bảng.Nghỉ giữa tiết b/ Luyện đọc : Đọc từ ứng dụng. c/ Luyện viết bảng con.

24TIẾT 2d)Luyện đọc toàn bài ở tiết 1.e)Đọc câu ứng dụng.Nghỉ giữa tiếtg) Luyện viết ở vở.h) Kể chuyện: Kể theo tranh nhằm rèn luyện và phát triển kĩ năng nghe – nói cho HS, đồng thời giúp cho nội dung học tập thêm phong phú, sinh động, hấp dẫn. Tên truyện kể gắn với những âm, vần HS đã học.3) Củng cố – dặn dò:

Linh Hoạt Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Lớp 1

Học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Tràng An trong giờ học

Những giờ học hào hứng

Giờ học Âm nhạc lớp 1, Trường Tiểu học Tràng An (Hà Nội) khá sôi nổi khi cô giáo đệm đàn, học sinh hát. Đạo cụ của giờ học gồm có trống, hoa giấy, bộ gõ… Từng nhóm học sinh giơ tay lên biểu diễn trên nền nhạc của giáo viên. Để tạo sự vui nhộn, hào hứng cho học sinh, giáo viên cho phép các em ngẫu hứng múa minh họa.

Bà Trần Thị Bích Liên, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tràng An, nói rằng, giáo viên phải tích cực đổi mới kỹ thuật dạy học; Mỗi tuần, tổ giáo viên lớp 1 đều tổ chức sinh hoạt chuyên môn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm. Trường phân mỗi giáo viên phụ trách chuyên môn sâu 1 môn học cụ thể để chia sẻ phương pháp dạy học hay về môn đó. Theo bà Liên, SGK lớp 1 phải sau một năm mới rút ra được kinh nghiệm. “Tuy nhiên, cái khó hiện nay là đồ dùng, thiết bị dạy học cho cả cô và trò đều chưa có. Ngoài tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên phải tự chế tạo đồ dùng nên vất vả hơn”, bà nói.

Cô Nguyễn Thị Khánh Ly, giáo viên Trường Tiểu học Ngọc Khánh (Hà Nội), cho rằng, liên tục đổi mới phương pháp dạy học để học sinh luôn hứng thú. Ví dụ, trong các giờ học Tiếng Việt, học sinh lên bảng tập đóng vai, hóa thân vào các nhân vật trong truyện. Sau đó, mới dẫn dắt học sinh đi đến việc tìm tiếng, vần, từ mới trong bài học. Cuối giờ, biết học sinh rất thích tô màu, cô giáo cho các em vẽ tranh tư duy và tô màu sắc tùy hứng. Qua đó, học sinh học âm – vần rất vui vẻ.

Ông Trần Huy Hợi, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thạch Tân (Hà Tĩnh), cho biết, sau gần nửa năm dạy SGK mới, giáo viên cần phải nỗ lực hơn nhưng cũng đã “vào guồng”, chuẩn kiến thức, kỹ năng học sinh đều đạt được. “Nếu trước đây, cô đọc trò viết, cô nói trò nghe thì dạy học theo phương pháp mới, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, gợi mở để khuyến khích học sinh chủ động tự học, tự làm từ đó lĩnh hội kiến thức”, ông Hợi nói.

Giáo viên được quyền linh hoạt

Ông Nguyễn Xuân Thành, Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học – Bộ GD&ĐT, cho biết, phương pháp dạy học tích cực được Bộ hướng dẫn các cơ sở giáo dục áp dụng nhiều năm nay, và được áp dụng triệt để trong chương trình, SGK mới.

Nguyên tắc của đổi mới phương pháp dạy học là thầy cô phải giao nhiệm vụ rõ ràng cho học sinh và được quyền áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy. “Giáo viên đóng vai trò quan sát, hỗ trợ những vướng mắc, khó khăn của học sinh để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ. Dần dần, học sinh sẽ được hình thành thói quen và lĩnh hội kiến thức cũng như có thể áp dụng kiến thức vào thực tế”, ông Thành nói.

Ông Thành cho rằng, phương pháp dạy học này sẽ có hiệu quả hơn khi vận dụng hình thức khen thưởng, động viên học sinh. Theo ông trong đổi mới phương pháp dạy học, phụ huynh đóng vai trò quan trọng, giúp hướng dẫn các con có thể áp dụng kiến thức học vào thực tiễn, không nên làm thay con.

Theo Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thạch Tân, giáo viên trẻ nhanh nhạy nên đổi mới rất nhanh, giáo viên nhiều tuổi buộc phải nỗ lực hơn. Với phương pháp tổ chức dạy học linh hoạt, đổi mới trong từng tiết, từng bài, từng môn cụ thể, cường độ làm việc của giáo viên lớn hơn. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu, giáo viên lên kho dữ liệu dạy học tải các hình ảnh về trình chiếu, nên không phải viết bảng nhiều. Nhờ đó, giáo viên có thêm thời gian kiểm tra, hướng dẫn học sinh…

Hà Linh

Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Phân Môn Học Vần Lớp 1

CHUYÊN ĐỀ PPDH PHÂN MÔN HỌC VẦN - LỚP 1 1/ Kĩ năng. . Nghe: - Nghe trong hội thoại : + Nhận biết sự khác nhau của các âm, thanh và kết hợp của chúng; nhận biết sự thay đổi về độ cao, ngắt, nghỉ hơi. + Nghe hiểu câu kể, câu hỏi đơn giản. + Nghe hiểu lời hướng dẫn hoặc yêu cầu. - Nghe hiểu văn bản : Nghe hiểu một câu chuyện ngắn có nội dung thích hợp với học sinh lớp 1. . Nói : - Nói trong hội thoại: + Nói đủ to, rõ ràng, thành câu. + Biết đặt và trả lời câu hỏi lựa chọn về đối tượng. + Biết chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học. - Nói thành bài : Kể lại một câu chuyện đơn giản đã được nghe. . Đọc. - Đọc thành tiếng : + Biết cầm sách đọc đúng tư thế. + Đọc đúng và trơn tiếng : đọc liền từ, đọc cụm từ và câu ; tập ngắt , nghỉ (hơi) đúng chỗ. + Đọc hiểu : Hiểu nghĩa các từ thông thường , hiểu ý được diễn đạt trong câu đã đọc ( độ dài câu khoảng 10 tiếng ). - Học thuộc lòng một số bài văn vần ( thơ, ca dao, ) trong SGK. 1.4. Viết : - Viết chữ : Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh; viết các chữ cái cỡ vừa và nhỏ; tập ghi dấu thanh đúng vị trí; làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ quy định; tập viết các số đã học. - Viết chính tả : + Hình thức chính tả : Tập chép, bước đầu tập nghe đọc để viết chính tả. + Luyện viết các vần khó , các chữ mở đầu bằng : g/gh; ng/ngh ; c/k/q, Kiến thức : ( không có tiết học riêng , chỉ trình bày các kiến thức học sinh cần làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài thực hành kỹ năng ) 2.1. Ngữ âm và chữ viết : - Bước đầu nhận biết sự tương ứng giữa âm và chữ cái, thanh điệu và dấu ghi thanh. - Chính tả : Bước đầu nhận biết một số quy tắc chính tả. 2.2. Từ vựng : 2.3 . Ngữ pháp : - Nhận biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi. - Ghi nhớ các nghi thức lời nói. 2.4. Văn : Làm quen với các bài dạng văn vần, văn xuôi. Ngữ liệu : 3.1. Giai đoạn học chữ : là những từ ngữ, câu ngắn, đoạn ngắn, các thành ngữ, tục ngữ, ca dao, phù hợp với yêu cầu học chữ và rèn kỹ năng. Ngữ liệu phù hợp với lứa tuổi của HS, có tác dụng giáo dục và mở rộng sự hiểu biết. 3.2. Giai đoạn sau học chữ : Là những câu đoạn nói về thiên nhiên, gia đình, trường học, thiếu nhi. Ngữ liệu có cách diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, có tác dụng giáo dục giá trị nhân văn và bước đầu cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cuộc sống. Chú ý chính đáng đến các văn bản phản anùh đặc điểm về thiên nhiên , đời sống văn hoá, xã hội,. của các địa phương trên đất nước ta. Chương trình SGK Tiếng Việt 1. 4.1. Phần Học vần : Gồm 103 bài ( 83 bài thuộc tập một và 20 bài thuộc tập 2). Mỗi bài của phần Học vần được trình bày trên 2 trang sách ( trang thứ nhất là trang số chẵn và trang thứ hai là trang số lẻ) . Mỗi bài dạy - học trong 2 tiết. Mỗi tuần có 5 bài dạy - học trong 10 tiết và 1 tiết Tập viết. Nội dung bài Tập viết ở mỗi tuần không trình bày trong SGK mà đưa vào vở Tập viết. Khi dạy loại bài này, GV chú ý hướng dẫn HS tập viết theo các nét tạo ra con chữ. Các bài của phần Học vần có 3 dạng cơ bản, là : Làm quen với âm và chữ. Dạy - học âm , vần mới. Oân tập âm , vần. 4.2. Luyện tập tổng hợp : Bố trí theo tuần ( tính từ tuần 23 trở về sau 0 . Nội dung của phần luyện tập tổng hợp bắt đầu thể hiện theo phân môn, đó là : Tập đọc. Chính tả. Kể chuyện. Tập viết. Thiết kế của mỗi bài được thể hiện qua các nội dung chính sau : Mụcđích , yêu cầu. Đồ dùng dạy - học. I - Kiểm tra bài cũ II - Dạy - học bài mới. giới thiệu bài. Dạy bài mới. Luyện tập. III - Củng cố dặn dò. QUY TRÌNH VÀ PPDH TẬP ĐỌC - LỚP 1. A/ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU. - Đọc trơn cả bài, phát âm đúng những tiếng có âm, vần các vùng phương ngữ dễ phát âm sai. - Ôn các vần, tìm được tiếng có vần theo yêu cầu của bài học. - Hiểu các từ ngữ và nội dung của bài. - Học thuộc lòng bài thơ hoặc đoạn văn ( nếu có). B/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC. C/ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC. Tiết 1 I/ Kiểm tra bài cũ: II/ Dạy bài mới : 1/ Giới thiệu bài : GV có thể giới thiệu bài theo nhiều cách : Giới thiệu nội dung chính của bài đọc. Nhắc lại vấn đề đặt ra trong bài cũ rồi dẫn vào bài mới. 2/ Hướng dẫn luyện đọc : a/ GV đọc mẫu : Lời đọc mẫu đúng và hay của GV có tác dụng định hướng cách đọc cho HS, giúp HS nhận thức đúng hơn nội dung bài. Với bài đọc là văn bản nghệ thuệt, lời đọc của GV còn có ý nghĩa khơi gợi hứng thú và tưởng tượng của HS. b/ Học sinh luyện đọc : Đọc tiếng, từ khó ( từ khó, từ phát âm dễ lẫn, giải nghĩa từ ). Tuỳ đặc điểm phát âm của HS lớp mình , GV tự tìm những tiếng HS dễ phát âm sai cho các em luyện phát âm đúng. Đọc tiếp nối từng câu ( có thể đọc tiếp nối từng dòng với văn bản thơ ). Đọc đoạn, bài ( thi đọc cá nhân hoặc theo nhóm, lớp ). Chú ý về phương pháp : - Dùng cách đọc nối tiếp để tiết kiệm thời gian, tạo nhịp khẩn trương , làm cho mọi HS trong lớp đều được luyện đọc, đọc nhiều lần. - Yêu cầu HS bắt đầu đọc từ các vị trí khác nhau trong bài để tránh đọc vẹt ( sau khi các em đã đọc bài một vài lần ). - Tổ chức thi đọc giữa các nhóm, các tổ hoặc tổ chức trò chơi đọc tiếp sức , truyền điện,.. c/ Ôn và học một cặp vần mà HS nói, viết dễ lẫn, trong đó có ít nhất một vần trong bài. Các hình thức tổ chức dạy học cần vui, khẩn trương để trong thời gian có hạn, mọi HS đều được nói tiếng, từ, câu các em tìm được. Ví dụ : Thi tìm từ chứa tiếng; thi nói câu chứa tiếng; thi ghép âm với vần để tạo thành tiếng; nói câu thuyết minh cho tranh chứa tiếng có vần ôn; trò chơi bằng thẻ từ, bằng nam châm; ghép tiếng trên Bộ chữ học vần thực hành Tiếng việt Tiết 2 3/ Đọc và trả lời các câu hỏi về bài đọc. - Ở khâu tìm hiểu bài, GV hướng dẫn HS đọc ( đọc thành tiếng, đọc thầm )và tìm hiểu bài, tổ chức để mọi HS đều được tham gia trao đổi về nội dung của bài dựa theo các câu hỏi, bài tập trong SGK ( các câu hỏi, bài tập này đơn giản có thể giúp HS tái hiện, nhớ bài, hiểu nội dung chính của bài). - Trước khi hỏi HS về nội dung 1 câu, 1 đoạn trong bài, cần yêu cầu các em đọc đi đọc lại câu, đoạn đó ( đọc thành tiếng, đọc thầm ) cho thông thạo. ( Với lớp HS đọc kém, nên để thời gian dài hơn cho việc luyện đọc ). - Sau khi HS đã hiểu bài, GV mời một vài em đọc lại bài với yêu cầu nâng cao ( đọc vừa đúng , vừa hay ) . Hình thức tổ chức : thi đọc giữa các cá nhân, hoặc đọc theo vai ( với văn bản có nhân vật đối thoại ). Yêu cầu chính là luyện cho HS đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đúng mức. GV có thể hướng dẫn HS đọc hay, thể hiện đúng, tự nhiên một vài câu hoặc 1 đoạn trong bài. Ví dụ : Khi HS đọc phân vai các nhân vật trong bài " Mời vào" , GV có thể hướng dẫn các em đọc đúng lời hỏi đáp của từng nhân vật theo giọng của từng nhân vật. - Với các bài Tập đọc là thơ có yêu cầu HTL ( 1 khổ hoặc cả bài thơ ), GV hướng dẫn HS học thuộc lòng ngay tại lớp, về nhà tiếp tục học thuộc. Như vậy khâu luyện đọc luôn được thực hiện trước khâu tìm hiểu nội dung bài. HS được luyện đọc một cách kĩ lưỡng trước khi tìm hiểu bài. Nhờ đọc lĩ bài, các em sẽ hiểu bài tốt hơn. Sau khi đã tìm hiểu bài, HS được luyện đọc lại để hoàn chỉnh kĩ năng đọc toàn bài, nâng cao chất lượng đọc. 4/ Luyện nói theo bài đọc ( kí hiệu N ) Đây là một điểm mới trong SGK, có mục đích giúp phát triển ngôn ngữ trẻ, rèn cho các em nói năng mạnh dạn , tự tin. GV cần biết cách khơi gợi, kích thích HS nói năng, bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của mình. Yêu cầu luyện nói có thể là : Nối các từ ngữ hoặc mệnh đề thể hiện sự hiểu biết nội dung. Trả lời câu hỏi theo tranh. Trả lời câu hỏi. Nói tiếp câu dở dang . Nói một vài câu kể. Nói về những con vật em yêu thích. Hỏi và trả lời. Tập nói lời chào. Hát. III. Củng cố, dặn dò. GV lưu ý HS về nội dung bài, cách đọc; nhận xét tiết học , khen ngợi những HS học tốt. Dặn HS việc cần làm ở nhà. * Giờ học theo hướng đổi mới phương pháp là giờ học mà GV nói ít nhưng biết tổ chức hướng dẫn để HS làm việc và làm việc nhiều. GV không làm hộ, làm thay cho HS. Để giờ học tạo được cảm giác nhẹ nhàng như vậy, GV cần chuẩn bị bài công phu hơn so với việc chuẩn bị bài dạy theo phương pháp cũ. PP DẠY HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN - LỚP 1 Dạng bài thứ nhất LÀM QUEN VỚI ÂM VÀ CHỮ Kiểm tra bài cũ Yêu cầu cơ bản ; HS đọc được âm, thanh và viết được chữ ghi âm, dấu ghi thanh của bài kế trước; HS làm quen với nền nếp học tập, mạnh dạn, tự tin trong môi trường học tập mới. Yêu cầu mở rộng : HS biết và tìm được các tiếng , từ có âm , thanh vừa học Dạy - học bài mới. a/ Giới thiệu bài : GV dựa vào tranh ở SGK hoặc chuẩn bị tranh ảnh, vật mẫu để giới thiệu chữ ghi âm hoặc dấu thanh mới. b/ Dạy chữ ghi âm hoặc dâú ghi thanh mới ( trọng tâm ) : GV tiến hành dạy chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới theo nội dung bài học được trình bày trong SGK qua các bước sau : Hướng dẫn HS nhận dạng ( phân tích ) chữ ghi âm, dấu thanh mới. Hướng dẫn HS tập phát âm mới. - GV viết mẫu và hướng dẫn HS quy trình viết. HS tập viết chữ ghi âm và dấu thanh mới vào bảng con. - Đối với 6 bài đầu trong giai đoạn làm quen với âm và chữ, kiến thức trong mỗi bài không nhiều. Ngoài việc dạy kiến thức mới, giai đoạn này , GV cần dành thời gian để ổn định tổ chức lớp và hình thành cho HS nền nếp học tập như : cách cầm vở tập đọc, khoảng cách mắt nhìn, cách ngồi viết, cách đặt vở, cách cầm bút, cách đứng lên đọc bài, giao tiếp với bạn xung quanh Ví dụ : Cho HS nhìn tranh , tập phát âm từ mới, tìm âm, thanh mới hoặc cho HS quan sát tranh, nhận xét chữ giống nhau ghi trên các tranh ; tìm thêm tiếng , từ ngữ tương tự. c/ Luyện tập : GV cho HS luyện tập cả 4 kĩ năng theo nội dung bài học ghi trong SGK như sau: - Luyện đọc âm mới : Luyện đọc theo nhiều hình thức : cá nhân, nhóm , cả lớp ( giai đoạn đầu GV cần hướng dẫn HS cách nhìn chữ, nhìn dấu để đọc lên thành tiếng ). Luyện viết chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới. Ở 6 bài đầu, việc rèn kĩ năng viết mới chỉ dừng lại ở yêu cầu tập tô theo nét chữ mới học trong vở Tập viết 1, tập 1, Vở bài tập Tiếng Việt 1 , tập 1 ( nếu có ). GV cần dành thời gian hướng dẫn HS tư thế ngồi, cách giữ vở, cầm bút đưa theo nét chữ in sẵn. Luyện nghe - nói. Củng cố, dăn dò. GV chỉ bảng hoặc SGK cho HS theo dõi và đọc theo. Hướng dẫn HS tìm tiếng có âm mới học. Dặn HS ôn lại bài học ở nhà. PPDH PHÂN MÔN HỌC VẦN - LỚP 1 Dạng bài thứ hai DẠY - HỌC ÂM VẦN MỚI 1/ Kiểm tra bài cũ : - Yêu cầu cơ bản : HS đọc âm , vần và viết được chữ ghi âm, vần; đọc và viết được tiếng ( từ ) ứng dụng; đọc được câu ứng dụng ở bài cũ ( bài trước đó 0. - Yêu cầu mở rộng : GV có thể tuỳ trình độ HS đưa ra một số yêu cầu mở rộng hoặc nâng cao hơn. Ví dụ : Tìm thêm các tiếng ( từ ) mới có âm, vần đã học ( gợi ý qua đồ dùng học tập ở lớp, đồ dùng trong gia đình, các loại hoa quả, cây, co vật quen thuộc). 2/ PHÒNG GIÁO DỤC THỚI BÌNH TRƯỜNG TIỂU HỌC THỚI BÌNH C. CHUYÊN ĐỀ PPDH PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 Họ và tên : Trịnh Văn Linh

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1

Năm học mới 2014-2024, hơn 19.800 học sinh lớp 1 sẽ học theo chương trình tiếng Việt 1-CGD. Phương pháp này bao gồm 4 nội dung: Học vần, viết, đọc và viết chính tả. Điểm nổi bật của phương pháp này là tính vững chắc, học sinh học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy. Sự vững chắc đạt được nhờ hai yếu tố giải quyết dứt điểm (từng đơn vị học) và nhắc lại thường xuyên, nhắc lại khi có cơ hội.

Ngay sau khi có công văn của Bộ GD&ĐT về việc đăng ký phương án dạy học theo tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD, năm học 2013-2014, Sở GD&ĐT đã có kế hoạch chỉ đạo thực hiện dạy học thí điểm tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD tại 3 đơn vị: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và huyện Yên Lạc. Tổng số 201 lớp 1 với 7.189 học sinh tham gia học theo chương trình mới.

Sau một năm thử nghiệm, kiến thức và năng lực của giáo viên tham gia dạy Tiếng Việt 1 – CGD được nâng lên rõ rệt. Giáo viên không phải soạn bài nên có thời gian nghiên cứu thiết kế bài dạy và quy trình dạy các mẫu, nắm chắc quy trình của từng mẫu nên việc giảng dạy thuận lợi hơn. Giáo viên đã hiểu bản chất của chương trình và kĩ thuật dạy học, phấn khởi khi thấy chất lượng môn Tiếng Việt lớp 1 của mình cao hơn những năm học trước. Càng về cuối năm, giáo viên dạy học và vận dụng sách thiết kế vào dạy học càng linh hoạt, sáng tạo hơn.

Trong khi đó, học sinh được hướng dẫn kỹ các quy định nên các em có nề nếp học tập tốt ngay từ đầu năm và được duy trì trong suốt năm học. Với phương pháp dạy học theo hướng tích cực nên tiến trình giờ dạy diễn ra nhẹ nhàng, giúp học sinh tham gia hoạt động học tập một cách tự giác, chủ động, sáng tạo. Từ đó, bước đầu hình thành cho học sinh kĩ năng tự học. Học sinh tự làm ra sản phẩm giáo dục nên rất hứng thú, khả năng tư duy của học sinh được phát huy, học sinh nắm chắc cấu tạo ngữ âm của tiếng nên đều đọc được và đọc tốt, nắm chắc các quy tắc chính tả, học đến đâu chắc đến đó; không bị nhầm lẫn viết sai chính tả, học sinh có kĩ năng nghe để viết chính tả tốt. Đa số các em nghe và hiểu được hiệu lệnh, hiểu được lời nói của giáo viên. Nhiều em trả lời rành mạch, nói đủ câu rõ ràng. Học sinh đọc nhanh, đọc đều, đảm bảo tốc độ đọc theo yêu cầu. Qua đó, các bài tập đọc hiểu cũng được học sinh thực hiện tốt, chữ viết đúng và đẹp hơn. Kết quả học tập của học sinh ổn định, vững chắc, học sinh học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy. Cô Nguyễn Thị Thu Hương là một trong những giáo viên trực tiếp dạy môn Tiếng Việt 1- CGD của trường Tiểu học Minh Tân (Yên Lạc) cho biết: Với phương pháp dạy mới này, học sinh hứng thú hơn trong giờ học. Nhiều em thể hiện được khả năng đọc và viết khá tốt. So với phương pháp dạy truyền thống, chương trình Tiếng Việt 1- CGD có nhiều tính ưu việt. Với phương pháp này, đòi hỏi giáo viên liên tục phải tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, thường xuyên tìm tòi, tham khảo các mẫu giảng. Từ đó, tự thiết kế bài giảng của mình sao cho linh hoạt, phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh.

Tuy nhiên, sau một năm thử nghiệm dạy học theo chương trình Tiếng Việt 1-CGD, còn một số cán bộ giáo viên chưa thật yên tâm khi thực hiện dạy học theo chương trình mới. Nhiều giáo viên chưa có thói quen làm việc theo thiết kế, còn “tham lam, ôm đồm” kiến thức. Việc học sinh chuyển từ trường dạy theo chương trình Tiếng Việt cũ đến trường tham gia dạy Tiếng Việt 1 – CGD đã tạo ra nhiều khó khăn cho việc tiếp cận kiến thức của học sinh, khiến giáo viên phải dạy lại từ đầu. Phụ huynh rất quan tâm đến việc học Tiếng Việt của con em mình nhưng lại không thể dạy con theo tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD nên cũng đưa ra những băn khoăn, thắc mắc khiến giáo viên phải giải thích nhiều cho phụ huynh hiểu.

Khắc phục những khó khăn trên, Sở GD&ĐT đã yêu cầu các địa phương họp, tổng kết công tác triển khai dạy học Tiếng Việt 1- CGD, rút kinh nghiệm, đưa ra nguyên nhân và hướng giải quyết của những hạn chế tồn tại. Từ đó, lên kế hoạch triển khai chỉ đạo tổ chức dạy học Tiếng Việt 1 cho 100% học sinh lớp 1 trên địa bàn tỉnh bắt đầu từ năm học 2014-2024.

Thúy Nga

Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1

Công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra từng ngày. từng giờ trên khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn đời sống xã hội luôn luôn phát triển. Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung và phương pháp dạy học.

Những năm vừa qua, trong phong trào đổi mới phương pháp dạy học, một số giáo viên có tâm huyết với nghề, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn, có tay nghề khá và nhạy cảm trước yêu cầu của xã hội đã thực hiện nhiều giờ dạy tốt, phản ánh được tinh thần của xu thế mới. Tuy nhiên, phổ biến hiện nay vẫn là cách dạy thông báo kiến thức có sẵn, dạy học theo phương pháp “thuyết trình có kết hợp với đàm thoại” là chủ yếu mà về thực chất vẫn là “thầy truyền đạt, trò tiếp nhận và ghi nhớ”.

Một nét nổi bật hiện nay là nhìn chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nếu tiếp tục cách dạy học thụ động như thế sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học. Đây không phải là vấn đề của riêng nước ta mà là vấn đề đang được quan tâm của mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế – xã hội.

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra từng ngày. từng giờ trên khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn đời sống xã hội luôn luôn phát triển. Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung và phương pháp dạy học. Những năm vừa qua, trong phong trào đổi mới phương pháp dạy học, một số giáo viên có tâm huyết với nghề, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn, có tay nghề khá và nhạy cảm trước yêu cầu của xã hội đã thực hiện nhiều giờ dạy tốt, phản ánh được tinh thần của xu thế mới. Tuy nhiên, phổ biến hiện nay vẫn là cách dạy thông báo kiến thức có sẵn, dạy học theo phương pháp "thuyết trình có kết hợp với đàm thoại" là chủ yếu mà về thực chất vẫn là "thầy truyền đạt, trò tiếp nhận và ghi nhớ". Một nét nổi bật hiện nay là nhìn chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nếu tiếp tục cách dạy học thụ động như thế sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học. Đây không phải là vấn đề của riêng nước ta mà là vấn đề đang được quan tâm của mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội. Chương trình Toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn Toán ở Tiểu học, chương trình này kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy học Toán lớp 1 ở nước ta; khắc phục một số tồn tại của dạy học Toán lớp 1 trong giai đoạn vừa qua. Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 1 nói riêng cũng chính là để đáp ứng những yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đầu thế kỷ XXI. Là một Giáo viên đứng lớp tôi nhận thấy môn Toán ở Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng có một vị trí quan trọng, nó góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết để học các môn học khác ở Tiểu học. Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác phong khoa học. Xuất phát từ những lí do trên và cũng là để góp phần vào việc giúp học sinh lớp 1 học tốt môn Toán, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: "MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 1" PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH Thuận lợi: Được sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của lãnh đạo cấp trên, của Ban giám hiệu nhà trường. Được sự quan tâm của Hội cha mẹ học sinh, của các ban ngành địa phương. Đồ dùng học tập của học sinh tương đối đầy đủ. Các em có đầy đủ SGK, vở bài tập. Nhà trường luôn quan tâm tới việc đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học trong đó có môn Toán lớp 1. Khó khăn: Đa số học sinh là con em nông dân, công nhân, cha mẹ luôn bận rộn nên ít quan tâm đến việc học của các em. Một số em không được học qua các lớp mẫu giáo trước khi bước vào lớp 1. Đồ dùng học tập của một số em chưa đầy đủ nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh. PHẦN III: CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Theo tôi đổi mới không phải là thay toàn bộ các phương pháp truyền thống bằng những phương pháp hiện đại mà phải biết kết hợp một cách linh hoạt, hài hòa giữa các phương pháp đó làm sao để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Các phương pháp thường được tôi sử dụng trong các tiết học toán: 1, Trò chơi toán học: Trò chơi toán học là trò chơi, trong đó có chứa một yếu tố toán học nào đó. Vì là một trò chơi, trò chơi toán học mang đầy đủ các đặc điểm của trò chơi, nhưng trò chơi toán học khác với trò chơi "phi toán" ở chỗ ít nhiều phải chứa trong nó một yếu tố kiến thức toán học đó. Đối với học sinh lớp 1 với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em thì trò chơi toán học là một trong những phương pháp rất quan trọng giúp các em chiếm lĩnh được kiến thức mới. Thực tế cũng cho thấy hình thức tổ chức trò chơi toán học dễ được học sinh hưởng ứng tích cực và tham gia. Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung, trò chơi toán học có thể là: + Trò chơi nhằm dẫn dắt, hình thành tri thức mới. + Trò chơi nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kỹ năng. + Trò chơi nhằm ôn tập, rèn luyện tư duy trong giờ ngoại khóa. Sau đây tôi xin đưa ra một vài ví dụ về trò chơi toán học mà tôi đã sử dụng ở lớp mình. Ví dụ 1: Sau khi học xong các bài: Hình vuông, hình tròn; Hình tam giác tôi tổ chức cho các em chơi trò chơi "Bịt mắt chọn hình". Mục đích: Luyện kỹ năng nhận dạng hình Chuẩn bị: 25 hình bằng bìa cứng (5 hình vuông, 5 hình tam giác, 5 hình tròn, 5 hình tứ giác không vuông, 5 hình có đường bao cong nhưng không tròn) Cách chơi: 3 học sinh cùng chơi, đặt tên cho một em là "hình tam giác", một em là "hình tròn", một em là "hình vuông". Sau khi bị bịt kín mắt, mỗi em phải lấy ra các miếng bìa có hình trùng với tên của mình. Ai lấy đủ 5 hình trước là người thắng cuộc. Ví dụ 2: Để củng cố cho học sinh về phép cộng, phép trừ trong phạm vi 5, tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi "Buộc dây cho bóng" Chuẩn bị: 4 tờ bìa có hình vẽ, gồm 2 phần: - Phần trên: vẽ hình các quả bóng bay, trên mỗi quả có ghi một phép tính cộng hoặc trừ trong phạm vi 5. - Phần dưới: Vẽ một cụm các ô vuông ghi các kết quả của các phép tính trên. Cách chơi: Học sinh nối bóng với ô, ghi kết quả thích hợp ở dưới. Mỗi em trong đội chỉ được nối một lần và chuyển cho bạn khác nối tiếp. Tổ nào xong trước, nối đúng là tổ đó thắng. Ví dụ 3: Giúp học sinh ghi nhớ các bảng tính đã học và rèn luyện tính nhanh nhẹn, tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi "Đúng - sai" Cách chơi: Cử 2 đội chơi, mỗi đội 5 em; cử 1 em làm thư ký. Giáo viên lần lượt đưa ra các phép tính, chẳng hạn: 6 - 5 = 1; 3 + 2 = 5; 6 - 3 = 2; Sau mỗi phép tính đưa ra, các đội chơi phải có sự phản hồi lại nhanh (đúng hay sai) bằng cách đưa ra các tấm bìa đỏ hoặc xanh. Mỗi lần trả lời đúng với đáp án thì cộng 1 điểm và sai thì bị trừ 1 điểm. Cuối cuộc chơi đội nào nhiều điểm sẽ thắng. Ví dụ 4: Để rèn luyện cho học sinh cách đặt một đề toán tôi tổ chức cho các em chơi trò chơi "Nhìn vật đặt đề toán". Tôi chia học sinh thành 2 đội, cử đại diện (mỗi đội khoảng 5 đến 7 em) và mang một số đồ vật của nhóm mình lên. Ví dụ: 6 cái bút hay 9 que tính (từ 1 đến 10) (Đồ vật cùng loại). Cách chơi: Hai đội đứng quay mặt vào nhau: Một bạn của đội này cầm đưa lên một số bút (ví dụ 5 cái), đội kia phải nói được: "Có 5 cái bút" (hoặc "Bạn có 5 cái bút). Bạn đó tiếp tục cho đội bạn hoặc đội mình một số cái (ví dụ 2 cái), đội kia phải nói được: "Cho đi 2 cái". Bạn đó đưa số bút còn lại lên. Đội kia phải nói: "Còn lại mấy cái bút?". Sau đó lại đổi bên. Đội nào mà không đặt đề toán đúng đội đó sẽ thua. Nếu cả hai đội đặt đúng, đặt hay. Tôi khen tất cả các em. 2. Phương pháp trực quan: Là phương pháp giảng dạy dựa trên cơ sở những hình ảnh cụ thể: hình vẽ, đồ vật và thực tế xung quanh để hình thành kiến thức cho học sinh. Với phương pháp này tôi tổ chức, hướng dẫn các em học sinh hoạt động trực tiếp trên các sự vật cụ thể nhờ vậy học sinh nắm được chắc chắn kiến thức và kỹ năng tương ứng. Ví dụ: Khi dạy bài "Hình tam giác", tôi chuẩn bị các hình tam giác bằng bìa có màu sắc, kích thước, hình dạng khác nhau và đặt ở những vị trí khác nhau cho học sinh quan sát. Qua các hình ảnh cụ thể đó, tôi hình thành cho các em biểu tượng về hình tam giác. Sau đó tôi lại cho học sinh tự nêu ví dụ về hình tam giác trong thực tế như: cái ê ke, lá cờ thi đua, biển báo,.. Ví dụ: Để học sinh nắm được cấu tạo số, tôi thường tổ chức hoạt động chia một số que tính thành 2 nhóm một cách tùy ý, mỗi em chủ động chia theo cách của mình. Tập hợp tất cả các cách chia, tôi sẽ có được tất cả các trường hợp cần nắm về cấu tạo số. Có phân tích bằng hành động như vậy, dần dần học sinh mới phân tích thầm trong óc được. Ví dụ: Khi dạy về Đoạn thẳng: Tôi yêu cầu mỗi học sinh lấy ra một sợi dây. Tôi sẽ căng thẳng sợi dây của mình rồi yêu cầu cả lớp làm theo. Sau đó cho cả lớp đồng thanh: "Đây là một đoạn thẳng" Với cách dạy này 100% học sinh đều được trực tiếp tham gia hoạt động, học sinh dễ hiểu và nhớ lâu hơn. Tuy nhiên, ta không nên lạm dụng phương pháp này và cần phải chuyển dần, chuyển kịp thời và đúng lúc từ dạng trực quan này sang dạng trực quan khác với mức độ trừu tượng tăng dần. Ví dụ: Khi cho học sinh giải toán, chẳng hạn loại toán về nhiều hơn, tôi có những minh họa trực quan theo thứ tự như sau: ( ( ( ( * * * 4 ( ( ( ( ( ( ( * * 2 Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3 3. Phương pháp thực hành luyện tập: Là phương pháp dạy học thông qua các hoạt động thực hành - luyện tập của học sinh để giúp các em nắm được các kiến thức và kỹ năng mới. Phương pháp này có ưu thế là phát huy được tốt nhất tính độc lập của học sinh, là phương tiện tốt nhất để thực hiện nguyên lí giáo dục. Phương pháp này được tôi sử dụng thường xuyên. Học sinh được thực hành, luyện tập liên tục. Thông qua hoạt động này mà học sinh luyện tập các kiến thức và kỹ năng cần thiết. Tuy nhiên cần chú ý là phải chuẩn bị cho việc thực hành, luyện tập một cách chu đáo; động viên cả lớp hoạt động độc lập, mọi học sinh đều tự suy nghĩ, tự tìm biện pháp; nhất thiết phải tổng kết hoạt động độc lập của học sinh, điều chỉnh sai lầm, có sự bổ sung kiến thức cần thiết; các bài tập cần đi từ đơn giản đến phức tạp, cuối cùng nên có những bài tổng hợp để mức độ luyện tập được nâng cao dần; cần thay đổi hình thức luyện tập để gây hứng thú học tập cho học sinh; ... ủa giáo viên, bổ sung câu trả lời của bạn, biết nêu thắc mắc hay đề nghị giải thích những vấn đề chưa đủ rõ, chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì thực hiện các bài tập, không nản trước những khó khăn. Các em nắm kiến thức một cách sâu sắc và có ý thức. Kết quả học tập của các em có sự tiến bộ rõ rệt. Việc học tốt môn Toán cũng giúp các em học tốt các môn học khác. Kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 1/ 1 mà tôi phụ trách đạt được như sau: Thời gian HỌC LỰC MÔN TOÁN G K TB Y TS % TS % TS % TS % Giữa HKI 8 25,8 8 25,8 10 32,3 5 16,1 Cuối HKI 13 41,9 11 35,5 4 12,9 3 9,7 PHẦN V: BÀI HỌC KINH NGHIỆM Để đổi mới phương pháp dạy học Toán lớp 1 có hiệu quả tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau: ♀ Trước hết người giáo viên phải nắm vững chương trình và sách giáo khoa, hiểu đặc điểm tâm lý học sinh để lựa chọn và sử dụng những phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp. ♀Giáo viên phải cải tiến không ngừng phương pháp dạy học và giúp học sinh cải tiến phương pháp học. ♀ Giáo viên phải biết dựa vào những tri thức mà học sinh đã có, đã học để hướng dẫn học sinh nâng cao lên một trình độ mới. ♀ Hiểu không có phương pháp nào là tồi, mỗi phương pháp đều có giá trị riêng của nó. Hiệu quả hay không hiệu quả đều phụ thuộc vào người sử dụng. Nếu các phương pháp dạy học được kết hợp và bổ sung cho nhau thì cách dạy học ấy sẽ phù hợp được với đối tượng học đa dạng, chống sự nhàm chán và tạo ra sự năng động trong cách nghĩ, cách làm của học sinh. ♀ Giáo viên phải biết kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân. ♀ Tăng cường rèn kỹ năng thực hành cho học sinh. ♀ Sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học. ♀ Linh hoạt trong ứng xử sư phạm để thích ứng với sự thay đổi của đối tượng và hoàn cảnh. ♀ Luôn kiểm tra và đánh giá kiến thức và kỹ năng đạt được ở học sinh có động viên khuyến khích các em. ♀ Luôn tự tìm tòi, học hỏi rút kinh nghiệm để bồi dưỡng chuyên môn của mình. ♀ Tăng cường thao giảng, dự giờ rút kinh nghiệm, áp dụng những sáng kiến trong giảng dạy. ♀ Đổi mới phương pháp dạy học cùng với đổi mới cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng như cách thiết kế bài dạy. PHẦN VI: NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT Đổi mới phương pháp dạy học không thể đi đúng hướng nếu trình độ chuyên môn của giáo viên còn hạn chế. Vì vậy tôi đề nghị Sở, Phòng GD sẽ thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và phương pháp dạy học cho giáo viên. Công nghệ thông tin có tác dụng rất tích cực trong việc giảng dạy, trong khi đó đa số giáo viên còn chưa được đào tạo về vấn đề này. Tôi mong muốn sắp tới giáo viên sẽ được đào tạo bài bản và rộng rãi về sử dụng máy tính, máy chiếu, soạn giáo án điện tử, PHẦN VII: KẾT LUẬN Trong quá trình giảng dạy một số năm học ở lớp 1 bản thân tôi đã có điều kiện để học tập, tham khảo cách đổi mới phương pháp dạy học của các đồng nghiệp. Đây là một vấn đề đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa giáo viên, nhà trường, gia đình và chính bản thân của học sinh trong suốt quá trình học tập. Vì sự nhận thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên trong quá trình viết bài còn nhiều thiếu sót. Vậy rất mong các đồng nghiệp sẽ giúp đỡ tôi để phương pháp giảng dạy Toán lớp 1 đạt hiệu quả cao nhất. Minh Hòa, ngày 31 tháng 1 năm 2012 Người viết Vũ Thị Thu Hiền PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH HÒA PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HUYỆN DẦU TIẾNG PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG MỤC LỤC PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ TRANG 1 PHẦN II ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TRANG 3 PHẦN III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN TRANG 5 PHẦN IV KẾT QUẢ TRANG 19 PHẦN V BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRANG 20 PHẦN VI NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT TRANG 21 PHẦN VII KẾT LUẬN TRANG 22 TRANG PHẦN IV GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẦN V KẾT QUẢ TRANG PHẦN VI BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRANG PHẦN VII NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT TRANG PHẦN VIII KẾT LUẬN TRANG Nội dung môn Toán lớp 1 gồm có 4 tuyến kiến thức chính là: số học, đại lượng và đo đại lượng, yếu tố hình học, giải toán có lời văn. Dạy học các mạch kiến thức trên, tôi đều cố gắng theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học. Đó là phải tổ chức giờ học như là tổ chức các hoạt động học tập. Trong sách giáo khoa Toán 1 có các phiếu học và phiếu thực hành. Phiếu học của Toán 1 gồm phần bài học và phần các bài thực hành có ghi theo thứ tự bắt đầu từ số 1. Phần bài học trong mỗi phiếu của Toán 1 thường không nêu các kiến thức có sẵn mà thường chỉ nêu các tình huống( bằng hình ảnh) để học sinh hoạt động và tự phát hiện ra kiến thức mới theo hướng dẫn của giáo viên. Phần thực hành trong phiếu học là các bài luyện tập để củng cố kiến thức mới học. Phiếu thực hành bao gồm các bài tập, các câu hỏi sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó dần. Các bài tập mới hoặc các bài tập khó thường đặt ở cuối phiếu. Để dạy tốt phần bài học tôi thường giúp học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề của bài học: tôi sẽ hướng dẫn học sinh quan sát hình vẽ, tranh, ảnh,...trong sách hoặc sử dụng đồ dùng thích hợp để tự học sinh nêu ra vấn đề cần giải quyết rồi tự học sinh tham gia giải quyết vấn đề. Thời gian đầu tôi sẽ hướng dẫn học sinh nêu và giải quyết vấn đề. Khi học sinh đã quen tôi yêu cầu học sinh tự nêu và tự giải quyết vấn đề. Sau khi học sinh đã phát hiện và giải quyết vấn đề thì tùy theo loại bài học mà tôi hình thành kiến thức mới hoặc giúp các em tự nêu, tự giải quyết vấn đề, tự xây dựng kiến thức mới. Sau đó tôi giúp cho học sinh ghi nhớ kiến thức mới. Dạy phần bài mới tôi luôn chú ý đến việc thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học. Trong quá trình dạy học Toán tôi cũng luôn quan tâm đến rèn luyện cho học sinh cách diễn đạt ngắn, gọn, rõ ràng, vừa đủ nội dung của một thông tin bằng lời hoặc bằng ký hiệu, sơ đồ. Để dạy tốt phần thực hành, luyện tập( trong tiết dạy học bài mới và trong tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập) tôi nắm được nhiệm vụ chủ yếu của loại bài này là củng cố các kiến thức mà học sinh mới chiếm lĩnh được. Tôi phải giúp học sinh nhận ra kiến thức mới học trong các dạng bài tập khác nhau. Nếu học sinh không tự nhận ra được thì tôi sẽ gợi ý, hướng dẫn để học sinh nhớ lại kiến thức và cách làm chứ không làm thay học sinh. Tôi luôn yêu cầu học sinh phải làm các bài tập theo thứ tự sắp xếp trong phiếu hoắc do tôi sắp xếp, không được tự ý lướt qua hoặc bỏ qua bài tập. Trong quá trình làm bài, học sinh nào đã làm xong bài 1 và tự kiểm tra rồi hoặc tôi đã kiểm tra thì để cho em làm tiếp sang bài tập 2 không nhất thiết phải chờ cả lớp cùng làm xong. Trong một tiết học có học sinh làm được nhiều bài tập, có học sinh làm được ít bài tập, tôi sẽ giúp đỡ thêm cho những em chậm làm được nhiều bài hơn và giúp cho những em khá, giỏi làm hết các bài tập và hiểu rõ nội dung từng bài tập. Một điều quan trọng nữa là tôi tập cho các em có thói quen không thỏa mãn với bài làm của mình, với các cách giải đã có bằng cách khuyến khích, nêu gương và không "áp đặt" học sinh theo phương án có sẵn mà động viên các em tìm, lựa chọn phương án tốt nhất. Trong tiết học để giúp học sinh tự tin vào khả năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học của bản thân tôi tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các em học sinh ví dụ như cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ về cách giải một bài tập, khuyến khích học sinh nhận xét về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm trong quá trình trao đổi ý kiến ở nhóm. Phương pháp tổ chức dạy học theo nhóm hợp tác: Đây là phương pháp dạy học tích cực cần thiết trong dạy học môn Toán ở Tiểu học. Tùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập( tiết dạy về kiến thức mới, tiết thực hành, luyện tập), các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định trong cả tiết học hoặc thay đổi trong từng phần của tiết học. Tùy nội dung mà tôi giao cho các nhóm cùng một nhiệm vụ hoặc khác nhau về nhiệm vụ. Khi hoạt động theo nhóm yêu cầu của tôi là mọi cá nhân trong nhóm đều phải làm việc, các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu và giải quyết vấn đề. Đại diện nhóm sẽ trình bày kết quả làm việc của nhóm trước lớp. Từ kết quả làm việc của các em tôi sẽ tổ chức chốt lại các kến thức mới xuất hiện mà các em tìm được và đánh giá hoạt động học tập của các nhóm. Để tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, môn toán Tiểu học cần có phương pháp dạy học phù hợp. Xu thế chung trên thế giới hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học. Luật Giáo dục Việt Nam cũng khẳng định phương pháp dạy học phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh. 1. Về tổ chức lớp: Đầu năm học tôi thực hiện công tác ổn định tổ chức lớp, dần đưa các em vào nền nếp, tổ chức bầu ra ban cán sự lớp, bố trí, sắp xếp chỗ ngồi: học sinh khá giỏi ngồi xen kẽ với học sinh trung bình, yếu. Tạo tình đoàn kết tốt trong lớp học. Khen ngợi và động viên kịp thời để các em hứng thú trong quá trình học tập. Với những học sinh yếu toán tôi bố trí cho ngồi đầu bàn ngoài để tiện theo dõi, kiểm tra, giúp đỡ các em. Tìm hiểu, nghiên cứu lý lịch, hoàn cảnh từng em, ghi chép vào sổ theo dõi. Phân loại học sinh ngay từ đầu năm để có kế hoạch bồi dưỡng, phụ đạo học sinh yếu kém. Trực tiếp trao đổi với học sinh để năm thêm tình hình và khó khăn riêng của từng em xem các em có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình không? có tự giác học tập không?... để có biện pháp giáo dục phù hợp. Tận dụng thời gian cuối mỗi buổi học để phụ đạo thêm cho học sinh yếu kém, vận động các em học sinh khá giỏi tham gia để giúp bạn cùng tiến bộ. Trong những năm gần đây, Nghị quyết của Đại hội Đảng và những văn kiện khác của Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều nhấn mạnh rằng cần đổi mới phương pháp giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của đất nước để đào tạo ra những con người "năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề".

Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1″

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra từng ngày. từng giờ trên khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn đời sống xã hội luôn luôn phát triển. Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung và phương pháp dạy học.Những năm vừa qua, trong phong trào đổi mới phương pháp dạy học, một số giáo viên có tâm huyết với nghề, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn, có tay nghề khá và nhạy cảm trước yêu cầu của xã hội đã thực hiện nhiều giờ dạy tốt, phản ánh được tinh thần của xu thế mới. Tuy nhiên, phổ biến hiện nay vẫn là cách dạy thông báo kiến thức có sẵn, dạy học theo phương pháp “thuyết trình có kết hợp với đàm thoại” là chủ yếu mà về thực chất vẫn là “thầy truyền đạt, trò tiếp nhận và ghi nhớ”.Một nét nổi bật hiện nay là nhìn chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nếu tiếp tục cách dạy học thụ động như thế sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học. Đây không phải là vấn đề của riêng nước ta mà là vấn đề đang được quan tâm của mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế – xã hội.Chương trình Toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn Toán ở Tiểu học, chương trình này kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy học Toán lớp 1 ở nước ta; khắc phục một số tồn tại của dạy học Toán lớp 1 trong giai đoạn vừa qua. Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 1 nói riêng cũng chính là để đáp ứng những yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đầu thế kỷ XXI.Là một Giáo viên đứng lớp tôi nhận thấy môn Toán ở Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng có một vị trí quan trọng, nó góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết để học các môn học khác ở Tiểu học. Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác phong khoa học.Xuất phát từ những lí do trên và cũng là để góp phần vào việc giúp học sinh lớp 1 học tốt môn Toán, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 1”

PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Thuận lợi:Được sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của lãnh đạo cấp trên, của Ban giám hiệu nhà trường.Được sự quan tâm của Hội cha mẹ học sinh, của các ban ngành địa phương.Đồ dùng học tập của học sinh tương đối đầy đủ. Các em có đầy đủ SGK, vở bài tập.Nhà trường luôn quan tâm tới việc đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học trong đó có môn Toán lớp 1.Khó khăn:Đa số học sinh là con em nông dân, công nhân, cha mẹ luôn bận rộn nên ít quan tâm đến việc học của các em.Một số em không được học qua các lớp mẫu giáo trước khi bước vào lớp 1.Đồ dùng học tập của một số em chưa đầy đủ nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh.

PHẦN III: CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

Theo tôi đổi mới không phải là thay toàn bộ các phương pháp truyền thống bằng những phương pháp hiện đại mà phải biết kết hợp một cách linh hoạt, hài hòa giữa các phương pháp đó làm sao để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Cập nhật thông tin chi tiết về Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Vần Lớp 1 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!