Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài Phương Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Lịch Sử # Top 4 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài Phương Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Lịch Sử # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Phương Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Lịch Sử được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

PHỊNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BUƠN ĐƠN TRƯỜNG THCS LÊ HỒNG PHONG NGƯỜI THỰC HIỆN: Lê Thị Hoà MỤC LỤC TRANG Lời cảm ơn............................................................................................ .......2 Phiếu nhận xét, xếp loại SKKN.....................................................................3 PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài...........................................................................................5 Mục đích nghiên cứu đề tài....................................................................7 Phương pháp nghiên cứu.......................................................................7 PHẦN NỘI DUNG Cơ sở lý luận của vấn đề............... ........................................................9 Cơ sở thực tiễn của vấn đề............... .....................................................10 Thực trạng của vấn đề...........................................................................10 Các biện pháp để giải quyết vấn đề................................................................9 Hiệu quả của SKKN....................................................................................16 PHẦN KẾT LUẬN Kết luận ..................................................................................................18 Bài học kinh nghiệm...............................................................................19 Dự kiến về cải tiến cấu trúc thơi gian tới ...............................................19 Đề nghị, kiến nghị....................................................................................19 Tài liệu tham khảo......................................................................................21 Lời cảm ơn! Trân trọng cảm ơn phòng Giáo dục huyện Buôn Đôn đã tổ chức viết Sáng kiến kinh nghiện để cho giáo viên có dịp nói lên những ý kiến tâm huyết của mình cũng như có dịp trao đổi học hỏi những kinh nghiệm cùng bạn bè, đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường THCS Lê Hồng Phong luôn tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài của mình. Chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp giúp đỡ, gĩp ý để tôi hoàn thành đề tài của mình. Trong thời gian nghiên cứu và đưa ra những kinh nghiẹâm của mình chăc cũng còn có nhiều thiếu sót, Rất mong sự góp ý của quý cấp lãnh đạo để cho đề tài của tôi hoàn thiện và có tính khả thi cao hơn nữa. Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn! PHỊNG GD & ĐT BUƠN ĐƠN CỘNG HỒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG THCSLê Hồng Phong Độc lập – Tự do – Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên đề tài: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học mơn lịch sử Tác giả: Lê Thị Hồ Chức vụ: Dạy mơn lịch sử Bộ phận cơng tác: Tổ xã hội HỘI ĐỒNG KHGD TRƯỜNG Nhận xét: .. Xếp loại:. Ngày. tháng năm 2009 HĐKH TRƯỜNG PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BUƠN ĐƠN Nhận xét: .. Xếp loại:. Ngày. tháng năm 2009 TRƯỞNG PHỊNG A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1/ Lý do chọn đề tài: Cùng với sự phát triển của xã hội lồi người, cuộc cách mạng khoa học cơng nghệ như một luồng giĩ mới thổi vào và làm lay động nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Hơn bao giờ hết con người đang đứng trước những diễn biến thay đổi to lớn, phức tạp về lịch sử xã hội và khoa học- kỹ thuật. Nhiều mối quan hệ mâu thuẫn của thời đại cần được giải quyết trong đĩ cĩ mâu thuẫn yêu cầu ngành GD- ĐT nĩi chung và người thầy chúng ta nĩi riêng phải giải quyết ngay, đĩ là mâu thuẫn giữa quan hệ sức ép của khối lượng tri thức ngày càng tăng và sự tiếp nhận của con người cĩ giới hạn, bởi vì sự nhận thức của con người nĩi chung là tuyệt đối và khơng cĩ giới hạn song sự thu nhận, hiểu biết kiến thức của mỗi con người đều hữu hạn và tương đối. Như chúng ta đã biết, mơn lịch sử cĩ vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào với thành tựu dựng nước và giữ nước của tổ tiên và từ đĩ xác định nhiệm vụ trong hiện tại cĩ thái độ đúng đối với sự phát triển hợp quy luật cuả tương lai. Như chúng ta thấy, con đường nhận thức ngắn nhất sẽ là con đường “Đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” và phương tiện hết sức cần thiết để đi được trên “Con đường” nhận thức này chính là các “Dụng cụ trực quan”. Đặc biệt trong hướng dạy học mới hiện nay, “Hướng tích cực hố hoạt động học tập của học sinh”, yêu cầu người giáo viên phải biết tạo điều kiện cho học sinh tự tìm tịi, khai thác kiến thức, biết điều khiển hoạt động nhận thức của mình bằng các “Đồ dùng trực quan”, chính vì thế mà “Đồ dùng trực quan” đã trở thành một nhân tố khá quan trọng trong hoạt động dạy học, vì nĩ vừa là phương tiện giúp học sinh khai thác kiến thức, vừa là nguồn tri thức đa dạng, phong phú mà học sinh rất dễ nắm bắt. Chúng ta cũng biết, Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 2 khố VIII đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD-ĐT khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy- học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ” Trong việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học, việc phát huy tính tích cực của học sinh cĩ ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì xét cho cùng cơng việc giáo dục phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức,tự hành động. Giáo dục phải được thực hiện thơng qua hành động và hành động của bản thân (tư duy và thực tiễn). Vì vậy việc khơi dậy, phát triển ý thức, ý chí, năng lực, bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp tự học là con đường phát triển tối ưu của giáo dục. Qua nhiều năm giảng dạy mơn lịch sử ở trường THCS đặc biệt là từ khi thực hiện thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học tơi nhận thấy đây là một vấn đề bổ ích về lí luận cũng như thực tiễn. Nĩ cĩ ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng bộ mơn bởi vì đối tượng là học sinh THCS thì về mặt thể chất cũng như tinh thần, sự nhận thức, năng lực tư duy của các em đã phát triển ở mức độ cao hơn các em ở bậc tiểu học và các em ở lớp trên thì cao hơn các em ở lớp dưới. Nếu được khơi dậy đúng mức tính tích cực, sự chủ động trong học tập cũng như các hoạt động khác khơng những làm cho các em thu nhận được một lượng tri thức tốt nhất cho bản thân mà cịn là cơ sở vững chắc để các em bước vào bậc THPT – nơi mà các em sẽ phải cĩ năng lực tư duy và ý thức tự học cao hơn. Từ trước tới nay đã cĩ rất nhiều người đề cập đến vấn đề phát huy tích tính cực của học sinh trong học tập lịch sử từ bậc THCS đến đại học. Tuy nhiên những vấn đề mà các nhà nghiên cứu đưa ra chỉ áp dụng vào một bậc học cụ thể mà ít đi sâu vào một khối lớp cụ thể vi vậy trong khuơn khổ bài viết này tơi chỉ xin lưu ý đến một khía cạnh gắn liền với việc giảng dạy nhiều năm mơn lịch sử, đĩ là một số biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử với mục đích là gĩp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy mơn lịch sử ở trường THCS nơi tơi đang giảng dạy, đồng thời cũng là để trao đổi ,học tập kinh nghiệm của các thầy giáo,các đồng nghiệp nhằm nâng cao trình độ chuyên mơn cũng như phương pháp dạy học.Những vấn đề mà tơi nêu ra trên cơ sở được trang bị những kiến thức cơ bản nhất, phương pháp dạy học lịch sử cũng như việc sử dụng đồ dùng trực quan, thực nghiệm sư phạm ở trường THCS. Nếu thầy giáo chỉ làm chức năng truyền thụ kiến thức thì sẽ thực hiện phương châm “Thầy giáo là trung tâm’’ học sinh sẽ thụ động tiếp nhận kiến thức, sẽ học thuộc lịng những gì thầy giáo giảng và cho ghi cũng như trong sách đã viết. Đĩ chính là cách giảng dạy giáo điều, nhồi sọ biến giáo viên thành người thuyết trình, giảng giải và học sinh thụ động tiếp nhận những điều đã nghe, đã đọc. Cĩ nhà giáo dục đã gọi đĩ là cách “Nhai kiến thức rồi mớm cho học sinh”. Chúng ta đều biết rằng việc dạy học được tiến hành trong một quá trình thống nhất gồm hai khâu cĩ tác dụng tương hỗ nhau: giảng dạy và học tập. Cả việc giảng dạy và học tập đều là một quá trình nhận thức, tuân theo những quy luật nhận thức. Nhận thức trong dạy học được thể hiện trong hoạt động của giáo viên và học sinh đối với việc truyền thụ và tiếp thu một nội dung khoa học được quy định trong chương trình với những phương pháp dạy học thích hợp, những phương tiện hình thức cần thiết để đạt được kết quả nhất định đã đề ra. Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập. Nhà giáo dục người Đức là Disterverg đã khẳng định đúng đắn rằng: “Người giáo viên tồi truyền đạt chân lí, người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lí”. Điều này cĩ nghĩa rằng người giáo viên khơng chỉ giới hạn cơng việc của mình ở việc đọc cho học sinh ghi chép những kiến thức cĩ sẵn, bắt các em học thuộc lịng rồi kiểm tra điều ghi nhớ của các em thu nhận được ở bài giảng của giáo viên hay trong sách giáo khoa. Điều quan trọng là giáo viên cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản (bao gồm kiến thức khoa học, sự hiểu biết về các quy luật, nguyên lí và các phương pháp nhận thức) làm cơ sở định hướng cho việc tự khám phá các kiến thức mới, vận dụng vào học tập và cuộc sống. Vì vậy, việc cho các em quan sát đồ dùng trực quan rồi từ đĩ các em rút ra những nhận xét, tiếp thu tri thức, bồi dưỡng, rèn luyện về học tập là con đường phát triển tối ưu của giáo dục - đĩ chính là con đường lấy học sinh làm trung tâm, làm chủ thể của việc nhận thức với sự hướng dẫn, giáo dục tích cực cĩ hiệu quả của giáo viên, điều này được thực hiện trên cơ sở hoạt động tích cực, tự giác của học sinh. Đây là tính ưu việt của phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh được gọi là phương pháp dạy học mới để phân biệt với phương pháp dạy học cũ hay cịn gọi là kiểu dạy học truyền thống. Xuất phát từ tình hình thực tế đất nước, đặc biệt là trước cơng cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển như vũ bão, việc chỉnh lý chương trình giáo dục và thay đổi nội dung sách giáo khoa là một vấn đề rất cấp thiết và vơ cùng quan trọng. Chính vì lẽ đĩ mà “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Nhằm để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và chương trình giáo dục đổi mới hiện nay, người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với hướng dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm”. Một trong những phương pháp đặc trưng bộ mơn Lịch sử là phương pháp “Sử dụng dụng cụ trực quan” trong giảng dạy. Từ thực tế cho thấy chuẩn bị “Đồ dùng trực quan” làm dụng cụ trực quan là cơng tác rất khĩ khăn, rất cơng phu và rất tốn kém như: + Sử dụng “Đồ dùng trực quan” như thế nào để đảm bảo tính trực quan. + Sử dụng “Đồ dùng trực quan” như thế nào để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy Lịch sử lại là một vấn đề càng khĩ khăn hơn. Đĩ cũng chính là vấn đề của mỗi người giáo viên Lịch sử đã và đang quan tâm hiện nay, với hy vọng gĩp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ mơn lịch sử. Vì vậy mà trong bài viết này tơi xin trình bày: “Phương pháp sử dụng Đồ dùng trực quan trong giảng dạy Lịch sử” sẽ giúp cho việc dạy học theo phương pháp mới và việc thực hiện chương trình giáo dục mới sẽ đạt hiệu quả cao hơn như mong muốn. 2. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài: Về lí luận và thực tiễn, việc phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụng đồ dùng trực quan trong học tập mơn lịch sử là điều cần thiết và quan trọng để nâng cao hiệu quả giáo dục. Đĩ chính là lí do chủ yếu để nghiên cứu vấn đề này. Nội dung gồm: a. Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy-học lịch sử b. Thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy -học ở trường THCS. c. Những biện pháp sư phạm để phát huy sử dụng đồ dùng trực qua cĩ hiệu quả. 3. Phương pháp nghiên cứu: a- Đối tượng nghiên cứu. - Nội dung chương trình SGK, sách bài tập lịch sử THCS . - Đối tượng HS THCS đặc biệt là HS lớp 9. - Giáo viên dạy bộ mơn và thực trạng việc sử dụng đồ dùng trực quan ở trường THCS hiện nay. b- Nhiệm vụ, mục đích. - Nhìn rõ thực trạng việc sử dụng đồ dùng trực quan ở trường THCS những ưu điểm, nhược điểm. - Nguyên tắc và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan. - Rút ra những yêu cầu chung và bài học kinh nghiệm khi sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy gắn với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử. c- Phương pháp nghiên cứu. - Điều tra, phán đốn. - Phương pháp phân tích, tổng hợp. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp khảo sát đánh giá. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường THCS. Hiện nay cĩ nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau về vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học nĩi chung, dạy học lịch sử nĩi riêng Việc xây dựng cơ sở lí luận là điều quan trọng trong thực tiễn dạy học bộ mơn. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đối với học sinh lớp 9 là lớp cuối bậc THCS vì vậy mục tiêu giáo dục đặt ra ở đây là các em phải nắm được những kiến thức cơ bản nhất lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới được xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 9. Các em phải được rèn luyện ở mức độ cao hơn khả năng tự học, tự nhận thức và hành động cũng như cĩ những tìm tịi trong tư duy,sáng taọ. So sánh kiểu dạy học truyền thống và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh thơng qua việc tiếp cận, làm việc với đồ dùng trực quan chúng ta thấy rõ những điều khác biệt cơ bản trong quá trình dạy và học. Xin trích dẫn một vài ví dụ của giáo sư Phan Ngọc Liên và tiến sĩ Vũ Ngọc Anh để thấy rõ sự khác biệt đĩ: KIỂU DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG PPDH PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HS 1. Cung cấp nhiều sự kiện, được xem là tiêu chí cho chất lượng giáo dục. 2. GV là nguồn kiến thức duy nhất, phần lớn thời gian trên lớp dành cho GV thuyết trình, giảng giải, HS thụ động tiếp thu kiến thức thơng qua nghe và ghi lại lời của GV. 3. Học sinh chỉ làm việc một mình trên lớp, ở nhà hoặc với GV khi kiểm tra. 4. Nguồn kiến thức thu nhận được của HS rất hạn hẹp, thường giới hạn ở các bài giảng của GV, SGK 5. Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu ở trên lớp 1. Cung cấp những kiến thức cơ bản được chọn lựa phù hợp với yêu cầu, trình độ của HS, nhằm vào mục tiêu đào tạo. 2. Ngồi bài giảng của GV ở trên lớp HS được tiếp xúc với nhiều nguồn kiến thức khác, vốn kiến thức đã học, kiến thức của bạn bè, SGK, tài liệu tham khảo, thực tế cuộc sống. 4. Nguồn kiến thức của HS thu nhận rất phong phú, đa dang: Lời nĩi, tài liệu viết, đồ dùng trực quan, di tích lịch sử, phịng truyền thống, nhân chứng lịch sử.... 5. Dạy ở trên lớp, ở thực địa, ở bảo tàng, các hoạt động ngoại khố.... (Trích “ Áp dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cựccủa HS trong mơn lịch sử). GS. Phan Ngọc Liên và TS Vũ Ngọc Anh. NXB Đại học SP, Hà Nội 2002 Như vậy qua so sánh hai kiểu dạy học trên thì ta thấy phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao hơn .Tuy nhiên nĩ địi hỏi giáo viên và học sinh phải được “Tích cực hố’’ trong quá trình dạy- học, phải chủ động sáng tạo. Muốn đạt được điều đĩ GV cần áp dung nhiều phương pháp dạy - học trong đĩ cĩ phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Cần phải tiếp thu những điểm cơ bản cĩ tính nguyên tắc của cách dạy truyền thống song phải luơn luơn đổi mới, làm một cuộc cách mạng trong người dạy và người học để khắc phục sự bảo thủ, thụ động như: Giáo viên chỉ chuẩn bị giảng những điều học sinh dễ nhớ, học sinh chỉ chú trọng ghi lời giảng của giáo viên và kiến thức trong sách để trình bày lại khi kiểm tra. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ: Trước sự đổi mới từng ngày, từng giờ của tri thức khoa học, cùng với sự bùng nổ nhanh về kiến thức qua các phương tiện thơng tin đại chúng đặc biệt là của internet thì việc truyền thụ kiến thức cho học sinh địi hỏi phải chính xác, kịp thời và cĩ hệ thống, cĩ định hướng là nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên. Chính vì vậy, để dạy tốt một tiết học giáo viên khơng ngừng phải nghiên cứu, tìm tịi nâng cao sự hiểu biết của mình, và phải cĩ kĩ năng sử dụng các tư liệu đặc biệt là đồ dùng trực quan minh họa cho tiết dạy. Tri thức và tầm hiểu biết của người giáo viên được thể hiện qua quá trình giáo dục và giảng dạy. Kiến thức giáo viên truyền thụ cho học sinh phải chính xác, đảm bảo yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục của cấp học. Phải tổ chức học tập một cách linh hoạt, chủ động sáng tạo để học sinh tự mình khám phá và chiếm lĩnh kiến thức. Trong những năm gần đây các phương tiện, đồ dung cho dạy trên lớp của giáo viên tơi thấy đã cĩ sự đầu tư và đổi mới. Song phương pháp, tổ chức một số giáo viên cịn lúng túng, chưa xây dựng quy trình và kế hoạch một cách cụ thể nên hiệu quả chưa cao. Chất lượng dạy và học cĩ chuyển biến nhưng chưa mạnh. Từ yêu cầu thực tiễn đĩ, người giáo viên cần phải học tập, tìm hiểu tự bồi dưỡng cho mình phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan để nâng cao hiệu quả trong dạy học lịch sử để đáp ứng yêu cầu hiện nay. III. THỰC TRẠNG CỦA VẦN ĐỀ: Thực tiễn của việc dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong trường THCS hiện nay. Trong vài năm gần đây, bộ mơn lịch sử nĩi chung và mơn lịch sử lớp 9 nĩi riêng trong trường THCS đã được chú trọng hơn trước. Điều đĩ được thể hiện ở chỗ mơn lịch sử được xếp ngang hàng với các mơn khác như Lí , Hố được tổ chức thi học kì cũng được thi tập trung theo lịch và đề của phịng giáo dục, việc ra đề cũng được chú trọng hơn, việc thi tuyển học sinh giỏi các cấp được tổ chức thường xuyên với quy mơ và chất lượng, sát với thực tế. Cung cấp thêm các trang thiết bị và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc dạy và học. Tuy nhiên qua hơn 20 năm giảng dạy bộ mơn này tơi thấy rằng việc dạy học mơn lịch sử hiện nay vẫn cịn giặp rất nhiều khĩ khăn, nhưng trở ngại nhất là việc phát huy tính tích cực của học sinh trong việc quan sát, sử dụng đồ dùng trực quan, tuy đã được phổ biến, học tập bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ nhưng kết quả đạt được khơng đáng là bao. Điều đĩ đã dẫn đến chất lượng bộ mơn nĩi chung đối với học sinh lớp 9 nĩi riêng khi ra trường là khơng cao, chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục và mục tiêu đào tạo đặt ra. Thực trạng của vấn đề này cĩ thể giải thích ở những nguyên nhân cơ bản sau đây: Thứ nhất là vẫn tồn tại một quan niệm cố hữu cho rằng mơn Lịch sử cũng như Địa lí, Kĩ thuật, Thể dục, GDCD đều là những mơn phụ. Điều này được thể hiện việc quan tâm đến chất lượng bộ mơn từ cấp lãnh đạo chưa đúng mức. Theo tìm hiểu của cá nhân tơi nhiều trường giáo viên dạy Văn, Địa lí ..cĩ thể dạy sử do đĩ khơng đáp ứng yêu cầu của bộ mơn đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Thứ hai là về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập tuy đã được đầu tư nhưng vẫn cịn thiếu so với yêu cầu giáo dục hiện nay về đồ dùng dạy học nhất là các trường vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khĩ khăn. Tình trạng dạy chay vẫn cịn khá phổ biến. Trong suốt quá trình học bộ mơn từ lớp 6 đến lớp 9 cả thầy và trị chưa bao giờ cĩ điều kiện tham quan một di tích lịch sử vì khơng cĩ kinh phí. Điều đĩ làm cho vốn kiến thức kiến thức của các em chỉ bĩ gọn trong sách vở và bài giảng . Nguyên nhân thứ ba là việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong học tập bộ mơn lịch sử cịn nhiều hạn chế một phần là do chính những cơ chế, những quy định từ cấp trên. Trong những năm trở lại đây mơn lịch sử được quan tâm nhiều hơn, đồ dùng, tài liệu học tập được cung cấp đầy đủ hơn nhưng do nhu cầu của xã hội nên học sinh ít thích học mơn lịch sử . Ngồi ra cách tổ chức một số cuộc thi cử cũng cịn nhiều hạn chế, đĩ là chỉ chú trọng về mặt kiểm tra lí thuyết mà coi nhẹ bài tập thực hành, ít chú ý đến việc phát triển năng lực sáng tạo. Cuối cùng điều quan trọng là ý thức trá

“Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Phần Đất, Phân Bón Môn Công Nghệ 7”

Trong dạy học nói chung, trong dạy học Công Nghệ nói riêng, vấn đề đặt ra là cần phải đổi mới chiến lược đào tạo con người. Đặc biệt cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển thế hệ mới năng động, sáng tạo nhằm tạo ra nguồn lực nội sinh cho mỗi con người đồng thời tạo nên động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội.

Luật giáo dục điều 24.2 đã ghi rõ: “phương pháp dạy học cơ sở phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Mục đích, nội dung và phương pháp luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Song song với việc nâng cao chất lượng nội dung sách giáo khoa thì việc đổi mới phương pháp dạy học là điều cần thiết. Chương trình và sách giáo khoa Công Nghệ 7 đã được triển khai đại trà trong cả nước từ năm 2006 – 2007. Trong đó yêu cầu làm việc với hình ảnh là một trong những nội dung được nhấn mạnh và quan tâm.

Hình ảnh là hệ thống cung cấp nguồn kiến thức, hình thành và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Nó vừa làm nhiệm vụ cung cấp, định hướng tri thức vừa là phương tiện để giáo viên hướng dẫn học sinh cách học, cách khai thác tri thức. Đồng thời, tạo điều kiện cho học sinh trong quá trình học tập vừa tiếp thu được kiến thức, vừa rèn luyện được các kỹ năng và nắm vững phương pháp học tập, tạo hứng thú cho học sinh. Tuy nhiên hình ảnh dùng để dạy học trong sách giáo khoa Công Nghệ 7 nói chung và trong phần Đất, Phân bón nói riêng vẫn chưa đủ để có thể khai thác tốt lượng kiến thức cần truyền đạt. Vì vậy việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần Đất và Phân bón môn Công Nghệ 7 là điều cần thiết.

Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hiện nay, để thực hiện có hiệu quả yêu cầu đối với việc hình thành và rèn luyện kỹ năng sử dụng hình ảnh theo hướng tích cực hoá người học là việc làm không thể thiếu. Tuy nhiên thực tế sử dụng hình ảnh trong giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn. Đa số giáo viên còn lúng túng trong việc bổ sung và sử dụng hình ảnh trong quá trình dạy học. Đặc biệt là việc sử dụng hình ảnh theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Hình ảnh chứa đựng nhiều nguồn thông tin, trong khi giáo viên lại quen sử dụng sách cũ (hình ảnh chủ yếu tồn tại với chức năng minh hoạ, số lượng lại ít), với việc quen sử dụng phương pháp cũ (chủ yếu dùng để giải thích, minh họa cho bài học). Do vậy, hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh chưa thực sự đáp ứng việc sử dụng hình ảnh theo yêu cầu đổi mới.

Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn Công Nghệ 7 nói chung và dạy học phần Đất, Phân bón nói riêng một cách có hiệu quả.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần Đất, Phân bón môn Công Nghệ 7 – Trung học cơ sở ”.

2.1. Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu về hiệu quả cuả việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần đất, phân bón môn Công nghệ 7.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

– Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn Công Nghệ 7, phần Đất, Phân bón.

– Sử dụng hình ảnh để tổ chức học sinh lĩnh hội tri thức trong phần Đất, Phân bón – Công Nghệ 7 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.

3.1. Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức học sinh lĩnh hội tri thức trong phần Đất, Phân bón môn Công nghệ 7 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.

3.2. Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy học Công nghệ 7 ở trường Trung học cơ sở.

4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

– Nghiên cứu chủ trương, đường lối, tài liệu và các công trình nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá việc học của học sinh.

– Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Công nghệ 7 (Phần Đất, Phân bón).

– Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp, biện pháp bổ sung hình ảnh trong sách giáo khoa Công nghệ nói chung và phần Đất, Phân bón nói riêng theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.

4.2. Phương pháp chuyên gia:

Gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu ý kiến của các giảng viên và giáo viên chuyên ngành Kỹ thuật nông nghiệp để tham khảo ý kiến làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.

Sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức học sinh lĩnh hội tri thức trong phần Đất, Phân bón môn Công Nghệ 7 trong các bài lên lớp nghiên cứu tài liệu mới.

1.Cung cấp nhiều sự kiện, được xem là tiêu chí cho chất lượng giáo dục.

2.GV là nguồn kiến thức duy nhất, phần lớn thời gian trên lớp dành cho GV thuyết trình, giảng giải, HS thụ động tiếp thu kiến thức thông qua nghe và ghi lại lời của GV.

3.HS chỉ làm việc một mình trên lớp, ở nhà hoặc với GV khi kiểm tra.

4.Nguồn kiến thức thu nhận được của HS rất hạn hẹp, thường giới hạn ở các bài giảng của GV, SGK.

5.Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu ở trên lớp.

1.Cung cấp những kiến thức cơ bản được chọn lựa phù hợp với yêu cầu, trình độ của HS, nhằm vào mục tiêu đào tạo.

2.Ngoài bài giảng của GV ở trên lớp HS được tiếp xúc với nhiều nguồn kiến thức khác, vốn kiến thức đã học, kiến thức của bạn bè, SGK, tài liệu tham khảo, thực tế cuộc sống.

4.Nguồn kiến thức của HS thu nhận rất phong phú, đa dạng.

5.Dạy ở trên lớp, ở thực địa, ngay tại gia đình, lớp học, các hoạt động ngoại khóa…

Như vậy qua so sánh hai phương pháp dạy học trên ta thấy phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên nó đòi hỏi GV và HS phải được “tích cực hóa” trong quá trình dạy- học, phải chủ động sáng tạo. Muốn đạt được điều đó, GV cần áp dụng nhiều phương pháp dạy học trong đó có phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.

* Ở Việt Nam

Phan Đức Duy và Phạm Đình Văn với bài viết: “Kỹ năng sưu tầm, khai thác, sử dụng tư liệu phục vụ việc giảng dạy CSông nghệ ở trường trung học cơ sở”.

Nguyễn Duân với bài viết: “Bổ sung tư liệu dạy học Công Nghệ 7 (phần nông nghiệp)” và “hướng dẫn học sinh sưu tầm và sử dụng tư liệu học tập môn Công Nghệ (nông nghiệp) ở trường Trung học cơ sở”..

Nguyễn Văn Khanh trong khoá luận tốt nghiệp: “sử dụng tư liệu hình ảnh trong dạy học chương trồng trọt, lâm nghiệp đại cương môn Công Nghệ 7”..

Hoàng Hữu Tình trong khoá luận tốt nghiệp: “sử dụng tư liệu hình ảnh trong dạy học chương chăn nuôi môn Công Nghệ 7”.

Phạm Thị Thu Hà trong khoá luận tốt nghiệp: “Sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Công Nghệ 7 để tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh”.

2.1.1. Khái niệm tích cực:

– Theo từ điển tiếng Việt

– Tích cực: Tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo sự biến đổi.

– Tích cực: Tỏ ra nhiệt tình, hăng hái với nhiệm vụ, với công việc.

– Tích cực là một nét quan trọng của nhân cách, là một đức tính rất quý báu của con người.

2.1.2. Tích cực trong học tập:

Trong học tập, tích tích cực có ý nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có định hướng rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng. Những hành động có vận dụng cả trí óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn.

Tích cực trong học tập thực chất là tích cực nhận thức thể hiện ở sự khát khao tìm kiếm, hiểu biết tri thức, khát vọng về hiểu biết, nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.

2.1.3. Hoạt động của giáo viên, học sinh trong phương pháp dạy học tích cực:

2.1.3.1. Hoạt động của giáo viên

Hoạt động dạy của giáo viên là hoạt động do thầy làm chủ thể. Dạy học tích cực là một hình thức dạy học mà giáo viên không đưa ra tri thức cho học sinh dưới dạng có sẵn mà hướng dẫn, tổ chức cho các em tự tìm ra tri thức bằng các phương pháp dạy học tích cực.

Như vậy dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, người giáo viên chỉ là người hướng dẫn, thiết kế và tổ chức cho học sinh tự tìm tòi, khám phá, hoàn thành nhiệm vụ học tập .

2.1.3.2. Hoạt động của học sinh

Hoạt động học do học sinh làm chủ thể. Đây là một hoạt động cơ bản, có tính chất chủ động ở lứa tuổi học sinh phổ thông. Học sinh phải thực hiện các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá…). Qua các hoạt động này mà học sinh giải quyết được nhiệm vu học tập, chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách.

2.2.1. Khái niệm về hình ảnh:

Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm hình ảnh. Theo từ điển Tiếng Việt hình ảnh có nghĩa là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí tượng quang học (như máy ảnh).

Những dạng hình ảnh được sử dụng trong dạy học được gọi là tư liệu hình ảnh. Vậy tư liệu hình ảnh có thể được hiểu là những loại vật chất chứa đựng các hình ảnh sử dụng trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn học, bài học hay vấn đề học tập.

Với đặc thù của môn Công Nghệ 7 nói chung và phần Đất, Phân bón nói riêng, tư liệu hình ảnh không chỉ là nguồn cung cấp thông tin mà còn là đồ dùng trực quan thể hiện hình dạng, cấu trúc, đặc tính của sự vật, hiện tượng, được giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy và học, mang lại hứng thú học tập tích cực cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng lĩnh hội tri thức. Tư liệu hình ảnh góp phần rất lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học .

2.2.2. Vai trò của hình ảnh trong dạy học:

Sách giáo khoa Công nghệ 7 có những hình ảnh đã đem lại những chuyển biến nhất định trong kết quả dạy và học. Nhất là trong thời đại ngày nay, thông tin bùng nổ với tốc độ chóng mặt, việc bổ sung, sử dụng hình ảnh phục vụ việc dạy và học là việc làm cần thiết nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học, đưa việc học đến gần với thực tiễn hơn .

2.2.2.1. Cập nhật, bổ sung, mở rộng kiến thức trong sách giáo khoa

Do nguyên tắc “sách giáo khoa phải ngắn gọn, nội dung phải súc tích” nên nội dung các bài học không thể trình bày một cách chi tiết cho người học nghiên cứu. Hơn nữa, sách giáo khoa được thiết kế trong một giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội xác định và sử dụng trong một thời gian nhất định. Vì vậy không thể cập nhật hết những nội dung kiến thức, mang tính thời sự, tính thực tiễn sản xuất ở địa phương hay những thông tin kiến thức đặc trưng của các vùng miền. Do đó, trong tổ chức dạy học, giáo viên phải bổ sung hình ảnh để cập nhật, bổ sung, mở rộng kiến thức trong sách giáo khoa.

2.2.2.2. Củng cố, hoàn thiện kiến thức

Nội dung sách giáo khoa Công Nghệ 7 nói chung và phần “Đất, Phân bón” nói riêng được thiết kế dựa trên tính nguyên lý của quy trình kỹ thuật, do đó, mang tính chất chung cho mọi vùng miền và cho nhiều đối tượng. Trong tổ chức dạy học, giáo viên phải sử dụng hình ảnh cho học sinh nghiên cứu ở các đối tượng cụ thể nhằm củng cố thêm kiến thức nguyên lý và vận dụng kiến thức nguyên lý trong thực tế sản xuất ở các vùng miền khác nhau.

2.2.2.3. Góp phần đa dạng hoá phương tiện và đổi mới phương pháp dạy học

2.2.2.4. Góp phần gây hứng thú học tập cho học sinh

Trong dạy học việc gây hứng thú học tập cho học sinh là một trong những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức. Với hệ thống hình ảnh có nhiều ảnh đẹp, sống động chứa nhiều thông tin bổ ích sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh chủ động trong tư duy, sáng tạo trong học tập và làm không khí lớp học trở nên sôi nổi, vui vẻ, chất lượng giờ học được nâng cao.

2.2.2.5. Kiểm tra kết quả học tập của học sinh

Ngoài những vai trò trên, tư liệu có thể dùng để kiểm tra, đánh giá kỹ năng phân tích, tổng hợp, kỹ năng vận dụng kiến thức lý luận vào thực tiễn sản xuất.

2.2.3. Các loại tư liệu hình ảnh trong dạy học:

Như trên đã phân tích, sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học là các dạng vật chất. Tuỳ theo tính chất, đặc điểm và cách sử dụng của các vật chất mà hình ảnh trong dạy học được chia ra các loại khác nhau.

– Sơ đồ, biểu đồ.

– Hình vẽ, ảnh chụp.

– Mô hình mô phỏng.

Trong dạy học phần Đất trồng, Phân bón môn Công nghệ 7, tư liệu hình ảnh được thu thập dưới nhiều dạng khác nhau, từ nhiều nguồn khác nhau.

– Giáo viên tự thiết kế trên các phần mềm thông dụng.

– Thu thập từ máy scan, máy ảnh kỹ thuật số, mạng internet…

– Từ các nguồn phim tư liệu, phim phổ biến kỹ thuật cho nông dân. Từ các phim này, giáo viên có thể biên tập lại bằng các phần mềm cắt phim, chụp ảnh theo những ý đồ sư phạm, phù hợp với nội dung bài học.

Sau khi học xong phần “Đất, Phân bón” học sinh phải trình bày được nội dung kiến thức.

3.1.1. Về kiến thức

– Nêu và giải thích được một số tính chất cơ bản của đất như: Tính hấp phụ và cơ sở của tính hấp phụ, tính chua, kiềm và cơ sở của nó, các loại độ chua và đặc điểm của mỗi loại.

– Trình bày được khái niệm về độ phì nhiêu.

– Củng cố, vận dụng kiến thức đã học về phản ứng chua của đất.

– Phân biệt cách xác định độ chua hoạt tính và độ chua tiềm tàng.

– Giải thích được nguyên nhân hình thành đất xám bạc màu, đất xói mòn, đất mặn, đất phèn.

– Nêu được đặc điểm của đất xám bạc màu, đất xói mòn, đất mặn, đất phèn.

– Đề xuất các biện pháp cải tạo và hướng dẫn sử dụng đất xám bạc màu, đất xói mòn, đất mặn, đất phèn.

– Nhận biết, phân biệt được các tầng đất qua mặt phẫu diện, từ các tầng đất mà học sinh củng cố, hệ thống lại kiến thức về các nhân tố hình thành đất.

– Nêu được đặc điểm của phân hoá học, phân hữu cơ và phân vi sinh.

– Từ đặc điểm của mỗi loại mà đề xuất cách sử dụng để có hiệu quả đối với từng loại đất, cây trồng.

– Trình bày được nguyên lý chung trong sản xuất phân vi sinh vật.

– Giải thích đặc điểm của một số loại phân vi sinh thường dùng hiện nay, biện pháp sử dụng có hiệu quả.

3.1.2. Về kỹ năng

– Phát triển kỹ năng so sánh qua cấu tạo của keo âm và keo dương.

– Thực hiện đúng kỹ thuật của từng bước trong quá trình xác định độ chua (pH) hoạt tính, tiềm tàng của một loại đất cụ thể.

– Phát triển năng lực tư duy logic qua mối quan hệ từ: nguyên nhân dẫn đến đặc điểm và suy ra biện pháp cải tạo một số loại đất xấu.

– Phát triển kỹ năng quan sát, so sánh qua quan sát, nhận biết các tầng đất ở bề mặt phẫu diện.

– Phát triển kỹ năng phân tích qua đặc điểm của từng loại phân và kỹ năng tổng hợp qua phối hợp các loại phân bón cho từng loại đất, loại cây.

– Phát triển khả năng phân tích qua việc tìm ra những nội dung cơ bản khi nghiên cứu mỗi loại phân vi sinh vật. Qua ứng dụng phân vi sinh vật trong sản xuất một số loại phân bón mà phát triển tư duy kỹ thuật.

3.1.3. Về ý thức, thái độ

– Từ tính chất và độ phì nhiêu làm cơ sở để hình thành ý thức bảo vệ, sử dụng hợp lý.

– Có ý thức và thái độ làm việc khoa học, chính xác.

– Từ nguyên nhân gây đất xám bạc màu, đất xói mòn, đất mặn, đất phèn mà có ý thức ngăn chặn, phòng tránh để bảo vệ đất trồng và môi trường sống.

– Có ý thức góp phần cùng gia đình tăng nguồn phân bón và cách sử dụng hợp lý để nâng cao hiệu quả trong sản xuất (vùng phi nông nghiệp thì hình thành ý thức gom rác thải để góp phần tăng nguồn phân bón cho nông nghiệp, vệ sinh môi trường và tìm hiểu kỹ đặc điểm phân bón cho cây cảnh để sử dụng hiệu quả).

– Hình thành ý thức lao động có khoa học trong sản xuất nông nghiệp.

Kiến thức đại cương phần “Đất, Phân bón” bao gồm các nội dung cơ bản sau :

Bài 3: Một số tính chất chính bao gồm thành phần cơ giới của đất là gì; độ chua, độ kiềm của đất; khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng của đất; độ phì nhiêu của đất là gì?

Bài 5: Thực hành: Xác định độ pH của đất bằng phương pháp so màu bao gồm các phương pháp xác định độ pH của đất và xác định được pH của đất bằng thiết bị thông thường.

Bài 6: Biện pháp sử dụng, cải tạo và bảo vệ đất bao gồm vì sao phải sử dụng đất hợp lý; biện pháp cải tạo và bảo vệ đất.

Bài 9: Cách sử dụng và bảo quản các loại phân bón thông thường bao gồm cách bón phân, cách sử dụng và bảo quản các loại phân bón thường dùng trong nông nghiệp.

4. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần ” Đất, Phân bón” môn Công nghệ 7″:

Chức năng chính

Minh hoạ các bước xác định độ chua của đất.

Minh hoạ các loại đất xám bạc màu, đất xói mòn, đất mặn, đất phèn.

Minh hoạ các biện pháp canh tác đối với một số loại đất xấu.

Minh hoạ, cung cấp thông tin về phẫu diện của một số loại đất.

Minh hoạ một số loại phân

1. Nguyên tắc sử dụng đồ dùng trực quan:

Sử dụng đồ dùng trực quan phục vụ cho mục đích nghiên cứu, giảng dạy và học tập, do đó khi sử dụng đồ dùng trực quan cần phải đảm bảo các nguyên tắc .

Mục tiêu dạy học được hiểu là cái đích và yêu cầu phải đạt được của quá trình dạy học. Đó là các phẩm chất của học sinh về kiến thức, kỹ năng, thái độ. Các đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học phải hướng vào mục tiêu bài học. Tiến trình tổ chức học sinh khai thác hình ảnh đồng thời là quá trình thực hiện mục tiêu bài học đã đề ra.

Trong dạy học, sử dụng đồ dùng trực quan là điều cần thiết, tuy nhiên hình ảnh dạy học phải được xây dựng trên mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học; nội dung thông tin trong hình ảnh phải chính xác, rõ ràng, phản ánh nội dung bài học và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.

Sử dụng đồ dùng trực quan để phục vụ cho quá trình dạy học, do đó thông tin của hình ảnh phải ngắn gọn, súc tích, hình ảnh phải rõ ràng, phù hợp với ý đồ sư phạm.

Ngày nay, việc dạy học không dừng lại ở dạy kiến thức mà quan trọng hơn là dạy cách học cho học sinh để các em tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, từ đó trở thành con người tự chủ, năng động.

Do đó phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Để phát huy tính tích cực thì sử dụng đồ dùng trực quan phải súc tích, rõ ràng, phù hợp với tâm sinh lý.

Nội dung môn học Công nghệ nói chung và phần “Đất, Phân bón” nói riêng luôn được biên soạn một cách có hệ thống, thể hiện qua từng bài, từng chương, từng phần và toàn bộ chương trình. Tính hệ thống đó không chỉ được quy định bởi chính nội dung khoa học, phản ánh đối tượng khách quan có mang tính hệ thống mà còn bởi tính logic trong hệ thống tư duy của học sinh. Do đó hình ảnh được bổ sung cũng phải sắp xếp theo logic hệ thống chặt chẽ, sao cho lời giải của hình ảnh là cơ sở cho việc tìm tòi giải đáp của hình ảnh. Chính yếu tố này đã khuyến khích khả năng tư duy, suy diễn của người học.

Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành”, “lý luận gắn với thực tiễn” và đặc điểm của bộ môn Công nghệ là một môn khoa học thực nghiệm. Do đó, hình ảnh được bổ sung phải có tính thực tiễn cao, giúp học sinh liên hệ, sử dụng kiến thức đã học vào cuộc sống.

– Dựa vào mục tiêu dạy học của phần “Đất, Phân bón môn Công nghệ 7”.

– Dựa vào nguyên tắc, mục tiêu biên soạn sách giáo khoa mới của bộ giáo dục và đào tạo là giảm thông báo kiến thức, tăng lượng hình ảnh.

– Dựa vào cách trình bày nội dung sách giáo khoa theo hướng gợi mở, nêu vấn đề, cung cấp thông tin qua hình ảnh. Cơ sở này đã tạo thuận lợi cho giáo viên bổ sung hình ảnh để tổ chức học sinh lĩnh hội tri thức.

– Dựa vào chức năng của hình ảnh: Hình ảnh có chức năng kép là vừa minh hoạ kiến thức, vừa chứa đựng nguồn kiến thức mới.

– Dựa vào trình độ nhận thức của học sinh: Nhìn chung trình độ nhận thức của học sinh lớp 7 đã hình thành và phát triển. Cùng với đặc điểm tâm lý lứa tuổi các em rất hứng thú khi tự mình khám phá kiến thức từ hình ảnh. Đây là điều kiện thuận lợi để bổ sung hình ảnh theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.

Trong các môn học ở trường THCS, sách giáo khoa được xem như là “pháp lệnh”, là “kim chỉ nam” là nền tảng nội dung để giáo viên và học sinh đồng thời tác động trong quá trình tổ chức dạy học để tổ chức, hướng dẫn hay lĩnh hội tri thức. Nghiên cứu bài dạy trong sách giáo khoa, giáo viên sẽ xác định được những kiến thức cơ bản; những kiến thức cần bổ sung, mở rộng, cập nhật; những kiến thức cần khái quát, cụ thể hoá… từ đó định hướng cho việc tìm kiếm, bổ sung hình ảnh cần thiết.

Trên cơ sở nghiên cứu sách giáo khoa và phân tích mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học (nội dung – mục tiêu – phương pháp – phương tiện – hình thức tổ chức dạy học – kiểm tra, đánh giá), tuỳ nội dung bài học cụ thể mà xác định nguồn tư liệu cho phù hợp. Trong dạy học phần “Đất, Phân bón – Công nghệ 7”, có những bài, những mục số lượng và chất lượng hình ảnh trong sách giáo khoa đủ cho giáo viên và học sinh khai thác để thực hiện mục tiêu dạy học, nhưng cũng có những bài học chỉ dựa vào hình ảnh trong sách giáo khoa, giáo viên sẽ gặp khó khăn khi thực hiện hoạt động dạy và học sinh cũng gặp khó khăn khi thực hiện hoạt động học, do đó, cần phải tìm kiếm, bổ sung hình ảnh trực quan hoá, khách quan hoá nội dung kiến thức bài học.

Như vậy, quá trình phân tích nhu cầu là trả lời cho các câu hỏi: “có hay không nên sử dụng hình ảnh dạy học”; “cần bao nhiêu hình ảnh”.

Trong dạy học phần “Đất, Phân bón – Công nghệ 7”, hình ảnh có thể tìm kiếm ở các nguồn khác nhau (sách, báo, tạp chí chuyên ngành; sách phổ biến kỹ thuật; các chương trình tập huấn kỹ thuật; chương trình khuyến nông, khuyến lâm, bạn của nhà nông; các webside tìm kiếm, các cơ quan, tổ chức nghiên cứu…). Trên cơ sở phân tích nhu cầu về nguồn và loại hình ảnh cho nội dung bài học cụ thể, giáo viên có thể lựa chọn tư liệu cho phù hợp.

Ví dụ: Nguồn tư liệu hình ảnh phải thể hiện được các yêu cầu của việc bón phân hoá học đúng kỹ thuật. Để đáp ứng yêu cầu đó, hình ảnh được lựa chọn từ các kênh hình khác nhau và có thể dễ dàng tìm kiếm từ mạng internet.

Hình ảnh sau khi thu thập, để sử dụng trong dạy học cần phải xử lý để hình ảnh phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học trong sách giáo khoa và định hướng quá trình tổ chức dạy học. Sau khi xử lý, hình ảnh phải đáp ứng mục tiêu và nội dung bài dạy, là nguồn cung cấp kiến thức hay cách thức để giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh. Như vậy, hình ảnh phải chứa đựng kiến thức và phương pháp dạy học cho một nội dung cụ thể. Hình ảnh sau khi được xử lý sư phạm có thể sử dụng trong hoạt động dạy học.

Hình ảnh có thể được lưu trữ ở các hình thức khác nhau như trên giấy khổ lớn hoặc ảnh kỹ thuật số.

Để lưu trữ hình ảnh trong các thiết bị điện tử, các loại hình ảnh được đưa vào xử lý và liên kết trong các bài dạy cụ thể. Sau khi lựa chọn các hình ảnh, tiến hành xử lý và tạo các hiệu ứng để đưa vào giảng dạy.

Có thể khái quát quy trình bổ sung hệ thống hình ảnh theo sơ đồ sau:

Hình: Quy trình sử dụng đồ dùng trực quan dạy học phần “Đất, Phân bón môn Công nghệ 7”

* Hiệu quả thu được:

Qua việc áp dụng phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần “Đất, Phân bón môn Công nghệ 7” tôi nhận thấy kết quả khả quan như sau:

Phần lớn các em đã có ý thức học tập bộ môn và có phương pháp học tập tốt.

Đại bộ phận các em đã hình thành được một số kỹ năng đơn giản.

Cơ bản là các em biết quan sát tranh ảnh, hình vẽ để rút ra kiến thức cần biết.

* Kết quả cụ thể:

Các em tích cực, chủ động trong việc lĩnh hội các kiến thức, biết liên hệ thực tế.

Qua việc áp dụng phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần “Đất, Phân bón môn Công nghệ 7” phù hợp với nội dung bài dạy ở một số lớp điển hình để thử nghiệm có kết quả như sau:

+ 100% học sinh có sách giáo khoa.

Chất lượng môn Công Nghệ 7- Năm học 2016 – 2017

+ 90 % học sinh thích học bộ môn Công Nghệ.

Như vậy so với phương pháp truyền thống thì hiệu quả của phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần “Đất, Phân bón môn Công nghệ 7” phù hợp trong các tiết dạy mang lại hiệu quả cao.

– Bước đầu đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức học sinh lĩnh hội tri thức phần “Đất, Phân bón môn Công nghệ 7” nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.

– Hệ thống, phân tích được đặc điểm, vai trò của các loại hình ảnh đối với dạy học phần “Đất, Phân bón môn Công nghệ 7” nói riêng và trong dạy học Công nghệ nói chung.

– Bước đầu đưa ra được các bước sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phần “Đất, Phân bón môn Công nghệ 7” theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong các khâu khác nhau của bài lên lớp nghiên cứu tài liệu mới.

* Kết luận:

Tôi đã nghiên cứu, vận dụng và thấy kết quả tương đối khả quan. Để hiệu quả, nâng cao chất lượng bộ môn Công Nghệ và góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới PPDH và thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và dạy học; Hưởng ứng phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực và cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung của Bộ giáo dục và Đào tạo đang phát động.

Qua nghiên cứu đề tài này, tôi rút ra một số kiến nghị sau:

– Cần phát huy tối đa vai trò của hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa.

– Giáo viên cần chủ động bổ sung hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu ở các nguồn khác nhau để bổ sung cho hệ thống hình ảnh sẵn có trong sách giáo khoa.

– Các ban ngành chức năng có những biện pháp cụ thể trong việc trang bị thiết bị dạy học cho bộ môn, nhất là những thiết bị, những công nghệ thông tin tiên tiến hiện nay.

– Bổ sung hình ảnh cho các phần khác.

– Do khả năng và thời gian có hạn, kết quả của tiểu luận chỉ dừng lại ở nhữkết luận ban đầu, nhiều vấn đề chưa được đi sâu, không thể tránh khỏi những thiếu sót. Đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.

1. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Lý luận dạy học Sinh học đại cương, NXB giáo dục, 1996.

2. Vũ Đình Chiến, Rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Địa Lý lớp 7, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Huế, 2004.

3. Nguyễn Duân, Bổ sung tư liệu dạy học môn Công nghệ lớp 7 (phần Nông nghiệp), tạp chí thiết bị giáo dục, số 26 tháng 10 năm 2007, trang 25 – 28.

5. Nguyễn Duân, Thiết kế và sử dụng câu hỏi khai thác kênh hình trong sách giáo khoa sinh học ở phổ thông, tạp chí thiết bị giáo dục, số 38 tháng 10 năm 2008, trang 23 – 24 + 37.

7. Phạm Thị Thu Hà, Sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Công Nghệ 7 để tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Huế, 2008.

8. Nguyễn Ngọc Hiểu, Một số biện pháp tổ chức học sinh làm việc độc lập với sách giáo khoa để nâng cao hiệu quả dạy học Lâm nghiệp – Trồng trọt ở trường trung học phổ thông, khoá luận tốt nghiệp đại học sư pham Huế, 2006.

9. Trần Bá Hoành, Kỹ thuật dạy học sinh học, NXB giáo dục Hà Nội, 1995.

11. Nguyễn Văn Khanh, Sử dụng tư liệu hình ảnh trong dạy học chương trồng trọt, lâm nghiệp đại cương môn Công nghệ 10, khoá luận tốt nghiệp, Đại học sư phạm Huế, 2008.

14. Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thành Tuấn, Lý luận dạy học Công nghệ ở trường trung học cơ sở phần kỹ thuật Nông nghiệp, NXB giáo dục, Hà Nội, 2005.

16. Hoàng Thị Nguyệt Thắm, Phương pháp sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Địa Lý lớp 11 ban khoa học xã hội và nhân văn theo hướng dạy học tích cực ở trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Huế, 2005.

1. Biện pháp sử dụng, cải tạo và bảo vệ đất 3. Cách sử dụng và bảo quản các loại phân bón thông thường Hình ảnh một số loại phân bón 2. Quan sát phẫu diện đất

17. Phan Minh Tiến, Quy trình sử dụng phương tiện trực quan theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ học ở trường trung học cơ sở, tạp chí nghiên cứu giáo dục, 10/1998.

Mô hình trồng lúa và cây ăn quả Mô hình nông lâm kết hợp

Thành phần một số loại đất xấu

Phẫu diện đất mùn vàng Phẫu diện đất nâu đỏ Phẫu diện đất mùn thô

Phẫu diện đất xám bạc màu Phẫu diện đất mặn Phẫu diện đất phèn

Phẫu diện đất cát Phẫu diện đất trồng lúa

Chế phẩm hữu cơ hòa tan Phân bón lá hữu cơ Phân hữu cơ khoáng

Một Vài Kinh Nghiệm Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Môn Mĩ Thuật Bậc Tiểu Học

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO VẠN NINH TRƯỜNG TIỂU HỌC VẠN PHÚ 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT VÀI KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN MĨ THUẬT BẬC TIỂU HỌC Tên tác giả : Nguyễn Thùy Vinh Giáo viên Tổng phụ trách Năm học : 2013-2014 Đặt vấn đề Lí do chọn đề tài Một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng tạo, độc lập tư duy là biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật ở trường tiểu học cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng, nhớ sự vật lâu hơn. Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm bàn bạc thống nhất. Cụ thể biện pháp nhằm cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá quá trình dạy học, tăng cường khả năng tư duy của học sinh ở quá trình lĩnh hội tri thức, phát huy tính độc lập, tính tích cực của học sinh được làm việc dưới nhiều hình thức và có được hứng thú trong giờ học. Một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh, tính độc lập sáng tạo, độc lập tư duy là biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật ở trường tiểu học cũng như những môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò quan trọng trong giờ giảng. Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết giảng sẽ giúp học sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng hiểu sự vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng, nhớ sự vật lâu hơn. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan và mạnh dạn xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm: Một vài kinh nghiệm sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn Mĩ thuật Bậc tiểu học II . Đặc điểm tình hình 1. Thuận lợi - khó khăn 1.1 . Thuận lợi . Trường tiểu học Vạn Phú 2 có cơ sở vật chất; đồ dùng dạy học cơ bản đầy đủ cho việc dạy và học . Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện giúp đỡ về đồ dùng dạy học , đồng thời phân bố thời gian giảng dạy hợp lý . 1.2 . Khó khăn . Quan điểm của một số phụ huynh học sinh trong trường chưa có cái nhìn tích cực về môn Mĩ thuật nên dẫn đến việc một số học sinh chưa có đầy đủ đồ dùng . 2 . Nguyên nhân . Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật tại trường Tiểu học Vạn Phú 2, tôi thấy hầu hết các em đều thích học vẽ, cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình thức mỗi khi các em vẽ một bức tranh hay một bài tập thực hành. Bên cạnh đó còn một số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình, một số em còn chán nản không thích học vẽ. Tất cả những vấn đề trên rất đáng lo ngại, ảnh hưởng lớn đến việc học Mĩ thuật của học sinh cho nên tôi đã tiến hành điều tra ở một số lớp xem có bao nhiêu em thích học vẽ và không thích học vẽ để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục. Chúng ta đã biết việc sử dụng đồ dùng trực quan tốt ở tiết giảng sẽ phát huy được sự tham gia của nhiều giác quan. Hơn nữa, lứa tuổi học sinh tiểu học lại là lứa tuổi tư duy còn đang ở độ thấp (tư duy cụ thể), cho nên khi sử dụng đồ dùng trực quan thì đồ dùng phải sinh động, phải cụ thể để học sinh có được khả năng tự giác tư duy trừu tượng qua tay sờ, mắt thấy, tai nghe và có được hứng thú học tập, hiểu vấn đề nhanh, nhớ đồ dùng trực quan lâu trong khi vận dụng làm bài thực hành. Chính vì thế khi nói đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong môn Mĩ thuật là ta phải nghĩ ngay đến một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vấn đề đưa lên hàng đầu trong các phương pháp giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học. Như chúng ta đã biết, một tiết dạy Mĩ thuật có đồ dùng trực quan được khai thác triệt để sẽ bồi dưỡng và phát triển cho các em lòng ham thích, say mê học tập và đáp ứng yêu cầu, mục đích của bài. Khi các em biết khai thác đồ dùng trực quan độc lập các em sẽ nắm được các yếu tố tạo nên vẻ đẹp trong môn Mĩ thuật, ngoài ra còn phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo tốt hơn. Cho nên việc đổi mới phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là một nhu cầu tất yếu của quá trình dạy học và cũng là để hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên trên bục giảng. Hiện nay ở các trường tiểu học, nhìn chung đã có đủ giáo viên dạy chuyên môn Mĩ thuật. Do vậy trong mỗi bài giảng việc nghiên cứu áp dụng sử dụng đồ dùng trực quan luôn là vấn đề mà các giáo viên chuyên Mĩ thuật quan tâm để cho chất lượng của môn mĩ thuật ngày một được nâng cao. Qua nhiều năm thực tế giảng dạy, cùng với nghiên cứu các tài liệu nói về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan; Tôi nhận thấy chất lượng giảng dạy môn mĩ thuật nhìn mặt bằng chung là chưa cao. Đặc biệt là vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan còn chưa nhiều hoặc có sử dụng đồ dùng trực quan nhưng học sinh lại không khai thác kiến thức cơ bản từ đồ dùng trực quan mà vẫn thụ động quan sát đồ dùng. Tại một số lớp các trường lân cận tôi có dịp được tiếp xúc với các em học sinh và được biết các em rất thích học có đồ dùng trực quan. Nhưng qua thí điểm dạy cụ thể bằng các phương pháp sử dụng đồ dùng khác nhau tôi đã nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trong một tiết dạy mà giáo viên xử lý dữ kiện của bài soạn với đồ dùng không đúng thì đồ dùng đó cũng vô tác dụng. Hay sử dụng đồ dùng để minh hoạ cũng vậy, nếu không để học sinh khai thác một cách tự nhiên thì cũng không có hiệu quả. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan. Dạy Mĩ thuật nói chung góp phần mở rộng môi trường mĩ thuật cho xã hội để mọi người đều hướng tới cái đẹp và thưởng thức cái đẹp từ đó giúp cuộc sống của con người phong phú hơn, đẹp hơn. III. Nhiệm vụ nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học môn mĩ thuật ở trường Tiểu học. 2. Đối tượng nghiên cứu. Học sinh tiểu học _ Trường tiểu học Vạn Phú 2 B. Những vấn đề cần giải quyết 1. Xác định phân môn trong chương trình. Chương trình mĩ thuật bậc tiểu học bao gồm : - Vẽ theo mẫu - Vẽ tranh theo đề tài - Vẽ trang trí - Tập nặn tạo dáng - Thường thức mĩ thuật 2. Thực trạng tình hình học tập của học sinh Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học còn nhỏ, sự tập trung chưa cao, nhận thức của các em mới là làm quen với những kiến thức ban đầu, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực hành còn yếu chưa chú ý đến vai trò của các bước thực hành khi vẽ tranh. Giờ học vẽ còn trầm, học sinh vẽ bài uể oải, chán nản, tiết học đạt hiệu quả không cao nhiều học sinh không hoàn thành bài (kêu là khó, không biết vẽ). Đó là một số nguyên nhân dẫn đến tiết dạy chưa thành công. muốn khắc phục được điều đó, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ chương trình để có kế hoạch hướng dẫn cho học sinh. Không hướng dẫn chung chung với tất cả học sinh, cần có ý định trong từng đối tượng học sinh. Tổ chức tiết dạy sinh động, học sinh hứng thú làm bài đạt hiệu quả. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao nhất từ đồ dùng trực quan. 3. Phương pháp thực hiện Theo mục đích, yêu cầu mỗi bài giảng thì phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan luôn được vận dụng trong việc giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học vì nó phù hợp với đặc điểm của môn học và phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh. Phương pháp trực quan đối với môn Mĩ thuật có những yêu cầu cụ thể như: Yêu cầu về chuẩn bị đồ dùng trực quan và sử dụng đồ dùng trực quan. Vậy khi nói đến việc chuẩn bị đồ dùng trực quan ta phải nghĩ đến nhiệm vụ của môn Mĩ thuật, ngoài việc cung cấp những tri thức bộ môn và rèn kỹ năng nó còn nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Do đó đồ dùng giảng dạy đưa ra cho học sinh học tập ngoài yêu cầu là đối tượng cho học sinh quan sát, phù hợp với nội dung bài giảng còn có yêu cầu là phải đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh, tạo nên không khí nghệ thuật trong giờ học. Làm cho các em học sinh yêu thích vật mẫu bởi vẻ đẹp về hình dáng, màu sắc của mẫu, làm phấn chấn tinh thần học tập của các em. Điều đó góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Vì thế đồ dùng học tập môn Mĩ thuật không thể tuỳ tiện phải cần có sự chuẩn bị chu đáo trước theo yêu cầu của bài giảng. Mẫu vẽ to rõ ràng để học sinh nhìn rõ màu sắc, đường nét phải tươi vui, sáng sủa. Khi đồ dùng trực quan đã được chuẩn bị đầy đủ, thì tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi hình thức mĩ thuật mà có những yêu cầu về trình bày trực quan, để làm sao phát huy được khả năng tư duy khai thác kiến thức triệt để ở mỗi học sinh. Từ những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trực quan mỗi giáo viên vẫn còn sự hạn chế khác nhau. Mà cụ thể được thể hiện ở chất lượng bài tập của các em chưa cao. Khả năng tư duy hiểu bài, nhớ bài thông qua đồ dùng trực quan là rất thấp. Thậm chí có em chỉ quan sát đồ dùng trực quan như một vật không tác dụng, các em hoàn toàn không nắm được, không thâu tóm được nội dung chính của bài qua đồ dùng. Để khắc phục tình trạng này tôi đưa ra một số vấn đề từ thực tế cần giải quyết, nhằm mục đích giúp giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả để cho các em học sinh biết tự khai thác nội dung bài giảng từ trực quan. Nói tóm lại, khi sử dụng đồ dùng trực quan mà đồ dùng trực quan không đủ với yêu cầu bài giảng hay không đúng với mục đích bài giảng hoặc đồ dùng sử dụng không phù hợp với trình tự giảng, thời gian sử dụng ngắn quá, nhiều đồ dùng quá trong một tiết dạy đều không đem lại không khí nghệ thuật trong giờ học mà còn có tác dụng tiêu cực đến khả năng quan sát, phân tích đồ dùng của học sinh. 4. Vấn đề cần giải quyết Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ giảng Mĩ thuật là việc làm ban đầu, việc làm không thể thiếu đối với người giáo viên chuyên mĩ thuật khi đứng trên bục giảng. Nó là đặc thù của bộ môn vì thế giáo viên cần phải hết sức quan tâm chú trọng đến sự chuẩn bị đồ dùng trước giờ lên lớp sao cho thật chu đáo, thật đầy đủ và sát với yêu cầu, mục đích bài soạn. Ngoài ra, đồ dùng được chuẩn bị phải có thẩm mĩ. Từ những vật tĩnh, những vật vô tri, vô giác giáo viên phải thổi vào đó cái hồn của sự vật và phải là người truyền cái hồn của sự vật đến từng học sinh. Có như vậy thì đồ dùng trực quan khi được đưa ra mới phát huy tác dụng và có sức thuyết phục đối với học sinh. Giáo viên phải tạo cho lớp học một không khí nghệ thuật bằng kiến thức có ở đồ dùng trực quan để học sinh thực hành tốt. 5 - Phương pháp tiến hành 5.1. Biện pháp tiến hành Bước 1: Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài giảng, phải có giáo án chi tiết trước khi lên lớp, phải tìm phương pháp truyền đạt nhanh nhất, ngắn nhất từ trực quan. Bởi đồ dùng trực quan nó phù hợp với đặc điểm môn học, phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh (tri giác bằng trực quan cụ thể) Bước 2: Chuẩn bị đồ dùng trực quan phù hợp với các tiến trình giảng trong mục đích yêu cầu bài soạn. Đồ dùng gồm mẫu vẽ như đồ vật, dụng cụ sinh hoạt, hoa quả, hình khối...Tranh, ảnh như các phiên bản tranh của họa sĩ, minh hoạ các bước thực hiện bài vẽ,. Tất cả phải đáp ứng yêu cầu thẩm mĩ, đúng trọng tâm. Bước 3: Sử dụng trực quan để có hiệu quả thì khi sử dụng đồ dùng trực quan trong một tiết học vẽ giáo viên cần lấy mẫu , tranh ảnh làm trung tâm, lấy mẫu, tranh ảnh thay tiếng giảng giải, thuyết trình của cô. Cô chỉ gợi mở để học sinh tự tư duy, khám phá, khai thác kiến thức từ mẫu. Có như vậy phương pháp trực quan mới được khai thác triệt để, kết quả bài học mới đạt chất lượng cao. Giờ học có không khí nghệ thuật sôi nổi hơn. Qua đó ta thấy phương pháp trực quan sử dụng ở phần quan sát, nhận xét sẽ phát huy được tác dụng tốt, học sinh hiểu bài một cách dễ dàng, nhanh, độc lập và hiểu sâu Giáo viên thì làm việc ít, không phải vất vả mà vẫn gây được hứng thú học tập ở các em. 5.2. Kết luận sau khi tiến hành: - Để giúp học sinh làm tốt một bài vẽ trước tiên giáo viên phải trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản của bài học như hình mảng, màu sắc, bố cục, đường nét ... - Nắm chắc các phân môn trong môn mĩ thuật về cách quan sát, cách vẽ cũng như cách thực hiện. - Đối với giáo viên phải chuẩn bị tốt về giáo án, đồ dùng trực quan. - Khi sử dụng trực quan phải có ngôn ngữ giảng giải, thuyết trình phù hợp với đồ dùng trực quan. - Đồ dùng sử dụng không nên dễ dãi, không có chọn lọc hoặc nhiều quá làm cho đảo lộn nhận thức của học sinh. - Ví dụ: Bài 4. Vẽ theo mẫu: Khối hộp và khối cầu - Mẫu có dạng hình trụ và hình cầu Giáo viên cần sử dụng vật thật ( trực quan) có thể sử dụng kết hợp nhiều PPDH trong bài học như phương pháp quan sát, trực quan, giảng giải- minh hoạ, thực hành Giáo viên có thể tổ chức cho học làm việc theo nhóm,các nhóm tự chọn và bày mẫu (mẫu đã được chuẩn bị trước). Sau khi các nhóm bày mẫu xong, giáo viên phân tích cái được và chưa được cần điều chỉnh lại cho đẹp. Qua đó học sinh hiểu được để có mẫu như thế nào? Có mẫu đẹp chưa mà cần phải đặt như thế nào để có bố cục đẹp? Hình a hình b Hình c hình d Hình a. bố cục loãng Hình b.bố cục thu hẹp Hình c. bố cục không thuận mắt Hình d. bố cục đẹp, thuận mắt. Sau khi đã bày mẫu, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh quan sát nhận ra đặc điểm, hình dáng, màu sắc và cấu trúc hình thể của từng vật mẫu và so sánh sự khác nhau giữa các vật mẫu về hình dáng, màu sắc, tỉ lệ ( quan sát nhóm mẫu mà học sinh sẽ thực hiện bài vẽ ) + Những đồ vật hình trụ là những đồ vật có hình dạng như thế nào ? Kể tên một số đồ vật có dạng hình trụ ? + Hãy kể tên một số đồ vật có dạng hình cầu ? + Miêu tả những màu sắc, chất liệu sẵn có trên mẫu ? + So sánh tỉ lệ của hình cầu và hình trụ ? Bước này giáo viên vần hướng dẫn học sinh quan sát từ tổng thể đến chi tiết. Sau khi quan sát nhận ra đặc điểm riêng của từng vật mẫu, giáo viên hướng dẫn học sinh quy nhóm mẫu vào khung hình chung theo tỉ lệ chiều ngang, chiều cao ( lấy chiều cao của đồ vật cao nhất, chiều ngang tính từ vật nằm bên trái qua phải ), sắp đặt khung hình chung lên giấy vẽ sao cho cân đối đẹp mắt ( không quá to, quá nhỏ, lệch lên lệch xuống hoặc lệch sang trái sang phải.) giáo viên có thể dùng đồ dùng trực quan để minh hoạ cho các dạng bố cục đó để học sinh nhận ra thế nào là bố cục đẹp và chưa đẹp. Sau khi xác định được khung hình chung, giáo viên cần hướng học sinh tiến hành phác khung hình riêng của từng vật mẫu. Quan sát, so sánh tỉ lệ của từng vật mẫu để có hình vẽ chính xác với đặc điểm của mẫu. Khi hình dáng chung của từng mẫu vật đã được xây dựng, tiến hành chỉnh hình cho đúng với đặc điểm của mẫu. Quan sát, so sánh các bộ phận của mẫu để điều chỉnh vẽ cho đúng. Chú ý đến nét vẽ có chỗ đậm, chỗ nhạt dựa trên cơ sở ánh sáng chiếu vào mẫu vật. Không nên viền chu vi của hình vẽ bằng nét có độ đậm đều nhau làm cho hình vẽ trở nên khô cứng. Khi hình vẽ được chỉnh sửa, tiếp tục quan sát, so sánh độ đậm nhạt lớn trên mẫu để phân chia các mảnh đậm nhạt trên hình vẽ và gợi đậm nhạt bằng các nét đan xen nhau, chồng lên nhau. Trên cơ sở các mảng đậm nhạt lớn điều chỉnh, đẩy sâu, nhấn đậm nhạt một số chi tiết cần thiết để bài vẽ hoàn chỉnh. Vẽ đậm nhạt cần chú ý đến nguồn ánh sáng chiếu vào để diễn tả cho đúng. Sau phần hướng dẫn chung giáo viên cho học sinh thực hành bài vẽ. Trong khi thực hành giáo viên đến từng nhóm để hướng dẫn cá nhân thực hiện bài vẽ cho đúng các bước tiến hành. Tiến trình một bài Vẽ theo mẫu Lớp 5 VẼ THEO MẪU MẪU CÓ DẠNG HÌNH TRỤ VÀ HÌNH CẦU I.MỤC TIÊU : Kiến thức: Học sinh nhận biết được các vật mãu có dạng hình trụ và hình cầu. Kỹ năng: Học sinh biết các vẽ và vẽ được hình gần giống mẫu. Thái độ: Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của vật mẫu và thích quan tâm, tìm hiểu các đồ vật xung quanh. II.CHUẨN BỊ: 1.Giáo viên: -SGK, SGV -Một vài mẫu vẽ có dạng hình trụ, hình cầu khác nhau. -Hình gợi ý cách vẽ -Bài vẽ mẫu có dạng hình trụ, hình cầu của học sinh năm trước 2. Học sinh: -Giấy vẽ hoặc vở thực hành. -Bút chì, tẩy, màu. 3. Phương pháp: Quan sát, gợi mở, vấn đáp, thực hành - luyện tập. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CHỦ YẾU: 1. ổn định: 2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra đồ dùng học vẽ. Nhận xét kiểm tra bài cũ. 3. Bài mới : a.Giới thiệu bài : GV đưa vật mẫu lên và hỏi: -Những vật này là gì ? ( hộp sữa và quả cam, cái cốc, quả bóng ) -Những vật này có dạnh hình gì ? ( hình trụ và hình cầu ) Hôm nay chúng ta cùng thực hành vẽ mẫu có dạng hình trụ và hình cầu. b. Các hoạt động dạy-học Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Hoạt động 1: Quan sát, nhận xét: -GV giới thiệu một số vật mẫu có dạng hình trụ đã được chuẩn bị ( cái ca, cái chai, quả táo,quả cà) -GV và HS bày vật mẫu ở nhiều vị trí khác nhau gợi ý để học sinh tìm ra bố cục hợp lý. +Bố cục nào đẹp? Vì sao? +Mẫu gồm những vật gì? +Hình dáng của vật ra sao? -Ở mỗi góc nhìn khác nhau mẫu sẽ có bố cục, tỉ lệ khác nhau. +Khung hình chung của vật mẫu? +Hướng ánh sáng chiếu tới? So sánh độ đậm nhạt của hình trụ và hình cầu? Hoạt động 2: Hướng dẫn cách vẽ: -Vẽ khung hình chung. -Vẽ khung hình riêng của từng vật mẫu: ( đặc điểm, chiều cao, chiều ngang ) -Vẽ phác hình: theo tỉ lệ đã ước lượng bằng các nét thẳng mờ. -Vẽ chi tiết: trên những nét đã phác vẽ các nét chi tiết ( nét cong ) Chú ý điều chỉnh cho giống mẫu hơn Vẽ luôn những nét khuất nhằm để kiểm tra độ chính xác của mẫu, sau đó tẩy đi. Hoạt động 3: Hướng dẫn HS làm bài: -GV cho HS xem một số bài vẽ tĩnh vật có 2 vật mẫu có dạng tương tự. -GV hướng dẫn HS quan sát mẫu, ước lượng tỉ lệ khung hình chung, riêng, cách phác nét vẽ hình. -Vẽ màu theo ý thích hoặc vẽ đậm nhạt -GV theo dõi giúp đỡ HS Hoạt động 4: Nhận xét - đánh giá: -Trưng bày một số bài đã vẽ xong, gợi ý HS nhận xét về bố cục, nét vẽ, hình vẽ theo cảm nhận riêng. -GV nhận xét, góp ý Hoạt động 5: Củng cố dặn dò: -HS quan sát +Hình cầu che khuất một phần nhỏ của hình trụ. Bố cục như vậy bài vẽ có trong có ngoài, có sự liên kết chặt chẽ hơn. +Cái ca và quả +Hình trụ và hình cầu. +Hình chữ nhật đứng ( học sinh trả lời theo quan sát được ) HS nhìn mẫu so sánh chiều ngang, chiều cao của vật mẫu ( để vẽ giấy ngang hay dọc ) HS tìm đặc điểm riêng của từng vật mẫu và so sánh chiều cao và chiều ngang của 2 vật mẫu -HS quan sát rút kinh nghiệm -HS thực hành -HS nhận xét theo cảm nhận riêng 6. Hiệu quả đề tài: - Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi trường mình. C. Kết luận Phương pháp dạy học là phạm trù rộng trong việc nghiên cứu giáo dục. Mỗi giáo viên có những ưu thế riêng của mình trong cách dạy và thực hiện phương pháp. Với bản thân trải qua những năm giảng dạy, tôi đã rút ra kinh nghiệm và áp dụng trong giảng dạy của mình và của đồng nghiệp. Song tôi luôn suy nghĩ đảm bảo chất lượng cho học sinh ngoài kinh nghiệm của mình, tôi không ngừng học hỏi các đồng nghiệp để nâng cao tay nghề đáp ứng với sự nghiệp giáo dục trong xã hội hiện nay. 1.Kết quả đạt được: - Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, tìm ra biện pháp khắc phục và áp dụng thực hiện trong phạm vi trường mình. Việc học tập của các em đã có chuyển biến rõ rệt . Cuối HKI học sinh đạt được những kết quả khả quan, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học qua từng giai đoạn. Kết quả cụ thể như sau: Các giai đoạn KhốiLớp TSHS HT tốt ( A+ ) HT ( A ) Chưa hoàn thành SL TL% SL TL% TS TL% GHKI 5 102 14 14% 88 86% 0 0 HKI 26 25% 76 75% 0 0 MỘT SỐ BÀI VẼ CỦA HỌC SINH 2.Đúc kết nội dung, kinh nghiệm : Các hình thức, phương pháp dạy học phong phú, linh hoạt tránh sự nhàm chán cho học sinh Khẳng định sử dụng đồ dùng trực quan vào giảng dạy đạt hiệu quả cao. Bài học kinh nghiệm: Để đạt được hiệu quả tốt sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Mĩ thuật, bả

Đề Tài Sử Dụng Phương Pháp Minh Hoạ Trực Quan Giúp Học Sinh Thực Hành Tốt Bài Vẽ Mĩ Thuật

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MINH HOẠ TRỰC QUAN GIÚP HỌC SINH THỰC HÀNH TỐT BÀI VẼ MĨ THUẬT . Người thực hiện: Cao Văn Minh . Tổ: 5 ———-oooOooo——— A. MỞ ĐẦU I/. Lí do chọn đề tài – Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực năng khiếu, mà tất cả các em học sinh không phải em nào cũng có năng khiếu về mĩ thuật. Như chúng ta đã biết dạy Mĩ thuật không nhằm đào tạo các em trở thành hoạ sĩ, mà nhằm Giáo Dục Thẩm Mĩ cho các em là chủ yếu, tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp và biết vận dung cái đẹp vào sinh hoạt học tập hàng ngày và những công việc cụ thể mai sau. – Môn Mĩ Thuật góp phần nâng cao hơn năng lực quan sát, khả năng tư duy hình tượng và tính sáng tạo của các em với một phương pháp làm việc khoa học, nhằm hình thành ở các em phẩm chất của con người lao động mới, đáp ứng được đòi hỏi của một xã hội phát triển ngày càng cao. – Minh hoạ trực quan là một phương pháp giúp học sinh được thấy tận mắt cách làm việc, cách phác hoạ, cách vẽ để các em định hướng được bài vẽ của mình. – Minh hoạ trực quan còn giúp các em làm việc có định hướng, gợi mở thông qua suy nghỉ và óc sáng tạo của mình. – Giáo viên dần dần hướng các em vào bài học một cách hoàn thiện hơn. – Để đáp ứng và thực hiện tốt mục tiêu nói trên, bản thân Tôi là một giáo viên giảng dạy bộ môn Mĩ Thuật ở bậc tiểu học, tôi luôn tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi trong việc học mĩ thuật của các em nhằm tìm ra những phương pháp tốt nhất để giúp các em học tập tốt hơn đối với bộ môn năng khiếu này. Đó là lí do tôi chọn và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đề tài này giúp tôi tìm hiểu những hạn chế của học sinh khi học môn mĩ thuật .Qua đó giúp tôi có thêm kinh nghiệm tiếp cận học sinh đồng thời có những biện pháp thích ứng với điều kiện giáo dục hiện nay III.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu – Học sinh lớp 5 trường tiểu học An Dân số 1 2. Phạm vi nghiên cứu – Hình thành kĩ năng sử dụng phương pháp minh hoạ trực quan để thực hành tốt bài vẽ mĩ thuật – Học sinh lớp 5 trường tiểu học An Dân số 1 IV.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU – Tìm hiểu thực trạng các thể loại bài vẽ của học sinh trường tiểu học An Dân số 1. – Tìm hiểu những nguyên nhân gây nên thực trạng trên. – Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân đó,bước đầu đề xuất một số ý kiến khắc phục những thiếu sót tồn tại nhằm nâng cao chất lượng bài vẽ của học sinh V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tôi sử dụng các phương pháp sau: -Phương pháp quan sát – Phương pháp luyện tập – Phương pháp nghiên cứu sản phẩm – Phương pháp phỏng vấn: giáo viên có kinh nghiệm trong nghề B. NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận 1. Việc sử dụng phương pháp Minh hoạ trực quan giúp học sinh thực hành tốt bài vẽ mĩ thuật. Nghề dạy học là một trong những nghề khó, bởi sản phẩm của nó là con người đặc biệt hơn nữa Mĩ thuật là một trong những môn nghệ thuật. Nếu dạy học khó, thì dạy nghệ thuật càng khó hơn, cần phải mang tính nghệ thuật cao hơn. Song, khó không có nghĩa là không dạy được vì học mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người, làm cho mọi người nhìn ra cái đẹp, thấy cái đẹp có ở trong mình và xung quanh trở nên gần gũi và đáng yêu. Đồng thời, mĩ thuật giúp mọi người tự tạo ra cái đẹp theo ý mình và thưởng thức nó ngay trong sinh hoạt thường ngày của mình, làm cho cuộc sống thêm hài hoà, hạnh phúc. 2. Trực quan là phương pháp cơ bản của môn mĩ thuật: – Mĩ thuật là môn học trực quan. Đối tượng của môn mĩ thuật thường là những gì ta có thể nhìn thấy, sờ được – có hình, có khối, có đậm nhạt, có màu sắc ở xung quanh ta, gần gũi và quen thuộc. – Dạy mĩ thuật thường dạy trên đồ dùng dạy học. Do vậy, đồ dùng dạy học của môn mĩ thuật là nội dung, là kiến thức của bài học, dạy bằng trực quan bao giờ cũng mang lại hiệu quả cao. – Trực quan là phương pháp dạy sao cho học sinh thấy ngay, thấy một cách rõ ràng, cụ thể để các em hiểu nhanh, nhớ lâu, dù là những khái niệm trừu tượng như cân đối, hài hoà, hay những gì ẩn chứa trong bố cục, nét vẽ, màu sắc, 3. Quan sát là một phương pháp tốt nhất để giúp học tốt môn mĩ thuật: – Quan sát để nắm được, hiểu được đối tượng về hình dáng chung, về cấu trúc, về đậm nhạt và tỉ lệ của nó. Giúp người vẽ có ý định sắp xếp cho bài vẽ của mình, sao cho hình vẽ hợp tỉ lệ với trang giấy và làm cho bài vẽ đẹp hơn. – Quan sát để thu nhận được nhiều thông tin. – Quan sát từ bao quát đến chi tiết. – Quan sát để đối chiếu, so sánh, rút ra nhận xét đúng, chuẩn xác và khách quan. 4. Minh hoạ trực quan là giúp học sinh thấy và hiểu cụ thể hơn vấn đề qua cách minh hoạ bảng (vẽ bảng) của giáo viên: – Minh hoạ về hình mảng. – Minh hoạ về bố cục. – Minh hoạ về hình vẽ. – Minh hoạ về nét vẽ. – Minh hoạ về màu sắc. – Minh hoạ về đậm nhạt (sắc độ), Qua thời gian trực tiếp giảng dạy bản thân tôi nhận thấy minh hoạ trực quan giúp học sinh thực hành có hiệu quả rất cao trong bài vẽ của mình. Nhưng cần đảm bảo các điều kiện như: Đối với học sinh: – Đọc và tham khảo trước bài học để nắm bắt thông tin. – Thường xuyên quan sát sự vật, sự việc diễn ra hàng ngày xung quanh ta. – Chuẩn bị tốt dụng cụ phục vụ môn học. Đối với giáo viên: – Cần chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học như: Mẫu vẽ (vẽ theo mẫu). – Kết hợp nhiều phương pháp trong giảng dạy. – Đặc biệt là vẽ bảng (minh hoạ trực quan) gợi ý giúp học sinh thực hành bài vẽ. – Chú ý hướng dẫn học sinh quan sát thực tế xung quanh. . Chương 2 : Thực trạng đề tài a) Thuận lợi. Đối với giáo viên: – Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng , Nhà nước và của ngành. Đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn Mĩ thuật được đào tạo chuẩn hoá hơn về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng được yêu cầu tốt hơn trong giảng dạy Mĩ thuật. – Ban giám hiệu luôn quan tâm tạo điều kiện tốt để giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình. – Cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy đủ hơn phục vụ tốt cho môn học. Đối với học sinh: – Đa số các em nhà gần các điểm trường nên thuận lợi trong việc tới trường. – Gia đình cũng thường xuyên quan tâm đến việc học hành của con em mình. – Đa số các em yêu thích các môn học năng khiếu. b) Khó khăn. Đối với giáo viên: Bên cạnh những thuận lợi trên đối với việc giảng dạy môn Mĩ Thuật cũng còn gặp không ít khó khăn như: – Cơ sở vật chất còn thiếu thốn như chưa có phòng chức năng, chưa có mẫu vẽ cho các bài vẽ theo mẫu, tranh ảnh còn hạn hẹp. – Không có nhiều tài liệu tham khảo để phục vụ việc giảng dạy. Đối với học sinh: – Nhiều đối tượng học sinh chưa thật sự quan tâm đến môn học nên còn chưa chuẩn bị tốt dụng cụ phục vụ môn học làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập. – Đa số các em chưa tích cực, chủ động trong học tập, chưa phát huy được tính sáng tạo trong thực hành bài vẽ của mình.(các em thích sao chép hơn). – Chưa có sự tác động mạnh mẽ từ phía gia đình đến việc học tập của các em. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài , tôi xin được thống kê số liệu Khảo sát chất chất lượng HS trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: (Chỉ khảo sát ở HS khối lớp 5 Số TT Lớp TS HS XẾP LOẠI – TỈ LỆ A+ % A % B % 01 5A 28 4 18 6 02 5B 28 3 19 6 03 5C 27 2 19 7 Chương III Biện Pháp Thực Hiện VÍ DỤ 1: Phân môn vẽ tranh – Bài 8: VẼ CHÂN DUNG (Mĩ thuật 3). * Hoạt động I- Quan sát, nhận xét: phần này giáo viên dùng tranh, ảnh trực quan giúp học sinh tìm hiểu về: + Sự khác nhau giữa ảnh chân dung và tranh chân dung; + Về các đặc điểm của các nét mặt; + Trạng thái của mỗi người trong tranh; + Tranh chân dung là tranh vẽ về một con người cụ thể đó; + Có thể vẽ: Chân dung bán thân; Chân dung toàn thân; Chân dung nhiều người. + Các hoạt động minh hoạ cho ví dụ 1: – Trước tiên đặt câu hỏi để HS suy nghỉ về cách vẽ: . Muốn vẽ được tranh chân dung, cần phải làm như thế nào? – Giáo viên minh hoạ bảng các đặc điểm của: Khuôn mặt (trái xoan, vuông chữ điền, tròn, ngắn, dài,). Mắt (lớn, nhỏ, vui, buồn, giận,). Mũi (dọc dừa, cao, thấp, to, nhỏ,). Miệng (lớn, nhỏ, rộng, hẹp,). * Minh hoạ các nét để diễn tả trạng thái của nhân vật. VÍ DỤ 2 : Phân môn vẽ trang trí – Bài 14: TRANG TRÍ ®­êng diỊm ë ®å vËt (Mĩ thuật 5). * Hoạt động I- Quan sát, nhận xét: phần này giáo viên dùng tranh, ảnh trực quan giúp học sinh tìm hiểu về nội dung và tác dụng của việc ø trang trí ®­êng diỊm trªn ®å vËt. * Hoạt động II- Hướng dẫn học sinh cách trang trÝ ®­êng diỊm trªn ®å vËt (đây là phần trọng tâm của bài) giáo viên giới thiệu để HS thấy được có nhiều cách để tạo dáng và trang trí ®­êng diỊm trªn ®å vËt sau đó vừa giảng giải vừa minh hoạ trực quan theo từng cách để HS nắm bắt. + Các hoạt động minh hoạ cho ví dụ 2: – Giới thiệu cho HS thấy được có nhiều cách chän vÏ trang trÝ Chän c¸ch x¾p xÕp ho¹ tiÕt h×nh m¶ng phï hỵp (to, nhỏ, dài, ngắn), hình dạng vuông, tròn, ôvan hoặc chữ nhật. Chän ho¹ tiÕt phï hỵp c¸c h×nh m¶ng Minh hoạ cách điệu hoạ tiết. > Minh hoạ cho cách vÏ: Cách tìm mảng hình. Cách sử dụng đường nét. Cách sử dụng màu sắc sao cho phù hợp theo ý thÝch VÍ DỤ III: Phân môn vẽ tranh-Bài7: ĐỀ TÀI an toµn giao th«ng (Mĩ thuật 5). * Hoạt động I- Hướng dẫn học sinh tìm và chọn nội dung đề tài: phần này giáo viên dùng tranh, ảnh trực quan giúp học sinh tìm hiểu nh÷ng h×nh ¶nh ®Ỉc tr­ng khi vÏ vỊ ®Ị tµi nµy( Ph­¬ng tiƯn giao th«ng, biĨn b¸o, ®­êng x¸, cÇu cèng, ng­êi tham gia giao th«ng) để HS có hướng chọn nội dung cho bài vẽ của mình. + Các hoạt động minh hoạ cho ví dụ 3: – Giáo viên nhắc lại cách vẽ tranh đã học như: chọn nội dung, chọn hình ảnh và lược bỏ chi tiết để bố cục tranh có trọng tâm hợp lí, thuận mắt. Bố cục mảng (mảng chính, mảng phụ). Cách vẽ hình (hình ảnh chính, hình ảnh phụ) sao cho phù hợp và làm rỏ nội dung. . Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Sau khi áp dụng phương pháp minh hoạ trực quan vào giảng dạy, tôi nhận thấy đạt được một kết quả thật khả quan, kết quả khảo sát như sau: Số TT Lớp TS HS XẾP LOẠI – TỈ LỆ A+ % A % B % 01 5A 28 02 5B 28 03 5C 27 Trong thời gian áp dụng thực hiện phương pháp minh hoạ trực quantừ đầu năm đến nay bản thân tôi rút ra được kinh nghiệm như sau: – Phương pháp minh hoạ trực quan giúp cho giáo viên rèn luyện được kĩ năng minh hoạ bảng nhanh chóng, tránh được tình trạng giảng giải vấn đề dài dòng. – Phương pháp minh hoạ trực quan đồng thời cũng giúp cho giáo viên thể hiện nội dung bài dạy qua hình ảnh cụ thể. – Đặc biệt là phương pháp minh hoạ trực quan có thể áp dụng cho nhiều môn học khác. C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.Kết luận: Khi thực hiện sử dụng phương pháp minh hoạ trực quan vào hướng dẫn HS thực hành bài vẽ đã đem lại những kết quả như sau: Về ưu điểm: – Đa số học sinh thực hành bài vẽ đạt kết quả rất cao. – Học sinh tập trung vào tiết học. – Đặc biệt khi theo dõi giáo viên minh hoạ sẽ gây kích thích cho học sinh, tạo cho các em hứng thú trong học tập. Về khuyết điểm: – Tốn nhiều thời gian cho việc đầu tư vào tiết dạy. 2.Kiến nghị – Đối với giáo viên Tiểu học: – Phải kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Cần nắm bắt rõ năng lực học tập của từng đối tượng học sinh để giảng dạy cĩ hiệu quả. Tự học và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ của bản thân gĩp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường – Đối với học sinh. Các em học sinh phải thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đĩ là : tích cực học tập và rèn luyện. – Đối với nhà trường: Cần cĩ kế hoạch từng bước xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để phục tôt cho việc giảng dạy của Giáo viên Tăng cường trang bị ĐDDH Trong quá trình viết đề tài này khơng sao tránh khỏi những thiếu sĩt , mong ý kiến đĩng gĩp của ban giám khảo , cùng đồng nghiệp gĩp ý bổ sung . Tơi xin chân trành cảm ơn An Dân ngày 22/11/2010 Người viết Cao Văn Minh TÀI LIỆU THAM KHẢO *****¨***** Tạp chí giáo dục tiểu học Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên tiểu học Sách giáo viên, sách giáo khoa mĩ thuật lớp 1,2,3,4,5 Sách thiết kế bài giảng mĩ thuật 1,2,3,4,5 BẢNG GHI KẾT QUẢ XẾP LOẠI TIÊU CHUẨN CHI TIẾT ĐIỂM ĐẠT 1 ĐỔI MỚI 1 Cĩ đối tượng nghiên cứu mới 2 Cĩ giải pháp mới và sáng tạo để nâng cao hiệu quả cơng vụ 3 Cĩ đề xuất hướng nghiên cứu mới 2 LỢI ÍCH 4 Cĩ chứng cớ cho thấy SKKN đã tạo hiệu quả cao hơn, đáng tin, đáng khen (Phân biệt sáng kiến chưa áp dụng với sáng kiến đã áp dụng) 3 KHOA HỌC 5 Cĩ phương pháp nghiên cứu, cải tiến phù hợp với nghiệp vụ và rổ chức thực hiện của đơn vị (NĐ 20CP/08.2.1965) 6 Đạt logic, nội dung văn bản SKKN dễ hiểu 4 KHẢ THI 7 Cĩ thể áp dụng SKKN cho nhiều người, ở nhiều nơi 5 HỢP LỆ 8 Hình thức văn bản theo quy định của các cấp quản lý thi đua đã quy định. TỔNG CỘNG: XẾP LOẠI: PHẦN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP MỤC LỤC MỞ ĐẦU Trang Lí do chon đề tài 1 Đối tượng nghiên cứu 2 Phạm vi nghiên cứu 2 Phương pháp nghiên cứu 2 NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận 2-4 Chương 2:Thực trạng 4-8 KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ Kết luận 8-9 Kiến nghị 9

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Phương Pháp Sử Dụng Đồ Dùng Trực Quan Trong Dạy Học Lịch Sử trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!