Xu Hướng 3/2024 # Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

+ Đa số học sinh ngoan, có ý thức học tập, phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em. * Khó khăn: -Về phía học sinh: + Học sinh của trường gồm đa số là đối tượng học sinh dân tộc, sống trên địa xã EaBông, trong đó học sinh các buôn Rieng, Buôn Knul, Thôn 10/3 ở rất xa trường, học sinh đi lại khó khăn. + Đại đa số gia đình học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn, đa số gia đình thuộc diện hộ nghèo. + Một số phụ huynh còn lo việc làm kinh tế, chưa coi trọng vấn đề học tập, ít chú ý đến việc học của con em. Chưa biết động viên, khuyến khích con em học tập. Còn để con em bỏ tiết, bỏ học. + Đặc biệt: Học sinh dân tộc thiểu số có tính tự ti, thiếu tự tin và bản chất ít nói nên chưa mạnh dạn phát biểu xây dựng bài cũng như không dám nêu những thắc mắc hoặc trình bày những vấn đề khó hiểu với thầy cô và bạn bè. Khi được mời trình bày trước đông người học sinh có phần lúng túng. – Về phía giáo viên: + Một số giáo viên còn trẻ, ít hoặc chưa có kinh nghiệm giảng dạy. + Một số giáo viên ở một số vùng miền có giọng nói khó nghe, nói nhanh, dẫn đến học sinh nghe không hiểu. – Về đồ dùng dạy học: + Chưa có các loại sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình độ và lứa tuổi của học sinh, giúp học sinh có điều kiện thu nhập thông tin, nâng cao trình độ tiếng Anh, có hiểu biết thêm về xã hội. b. Thành công, hạn chế: – Thành công là đã tạo được hứng thú cho học sinh, giúp các em cũng cố lại những kiến thức đã học của các môn học khác, các em liên hệ với các tình huống trong cuộc sống, biết vận dụng kiến thức vào thực tế để mang lại lợi ích cho bản thân và cho mọi người. – Hạn chế chủ yếu đề tài này khi giảng dạy trên lớp phải sử dụng phương tiện dạy học là máy chiếu mới có thể chuyển tải được hết những cách xử lí các tình huống trong thực tể khi liên hệ, nhưng do trường sở tại điều kiên cơ sở vật chất còn thiếu thốn và vấn đề xử dụng máy chiếu thường xuyên trong các tiết dạy là chưa đáp ứng được. c. Mặt mạnh, mặt yếu: – Mặt mạnh là các em học sinh trung bình, khá giỏi tham gia rất hào hứng, và còn kích thích các em tìm tòi hiểu biết nhiều hơn. – Mặt yếu là các em học sinh yếu tiếp thu chậm, tham gia tích cực nhưng thực sự kết quả chưa cao. d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động: Với bộ môn Tiếng Anh: học sinh – đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số đã học chậm các môn học khác đồng thời cùng một lúc học cả 3 thứ tiếng ( tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt và cả tiếng Anh nữa) là rất khó. Hơn nữa các em học sinh chưa thật sự tự giác, tích cực trong việc học của mình. Tình hình xã hội hiện nay nhiểu sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường vẫn không xin được việc làm tác động đến tư tưởng của phụ huynh trong việc quan tâm đến việc học của con em mình và từ đó tác động tiêu cực đến ý thức cũng như thái độ học tập của học sinh. e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra: – Nhiều học sinh thấy chán môn Tiếng Anh không muốn học vì đặc điểm của trường chúng tôi thuộc vùng khó khăn, số lượng học sinh là dân tộc thiểu số chiếm 56% tổng số học sinh. Việc học tiếng Việt đối với các em vốn dĩ đã xem như là học một ngoại ngữ . Do đó việc học Tiếng Anh đối với các em lại càng khó hơn. Hơn nữa do là thuộc vùng khó khăn nên trong công tác tuyển sinh lớp đầu cấp nhà trường cũng gặp nhiều khó khăn. Các học sinh khá giỏi thường đăng ký vào các trường có điều kiện tốt hơn. Kết quả là số lượng học sinh nhà trường tuyển được đa số là học sinh có học lực trung bình và yếu nhiều. Môn tiếng Anh là một môn học về ngôn ngữ có phần khó, nhiều học sinh không hứng thú nên thấy chán và bỏ qua, không quan tâm đến. – Cũng do các nguyên nhân nêu trên nên dẫn đến chất lượng học tập thống kê qua các kì kiểm tra vẫn còn thấp. II. 3. GIẢI PHÁP: a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp: b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp: Cách làm cụ thể như sau: Bước 1. Chọn đề tài Chọn một tiết dạy nào đó trong chương trình tiếng Anh khối 6,7,8 hoặc 9. Sau đó xác định xem đề tài nó về vấn đề gì, có liên qua đến những kiến thức đã học của các môn học nào. Bước 2. Trao đổi với đồng nghiệp: Bước 3. Thu thập dữ liệu: Sau khi giáo viên đã xác đinh đươc những nội dung sẽ tích hợp vào đề tài của mình thì bước tiếp theo là thu thập nhưng dữ liệu, hình ảnh, video minh họa. Có thể tìm trong sách báo, trên mạng, hoạc trong các bộ phim mình đã xem Bước 4. Thực hiên soạn bài giảng: Soạn trên phần mềm power point, cần áp dụng phong phú các loại bài tập, trò chơi để tạo sự sinh động hứng thú cho bài dạy. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng các trò chơi và cần ấn định thời gian cho mỗi phần. Bước 5. Hoàn thành hồ sơ: Gồm các loai hồ sơ sau: PHỤ LỤC II PHIẾU THÔNG TIN VỀ GIÁO VIÊN DỰ THI – Sở Giáo Dục và Đào tạo tỉnh Đăk Lăk – Phòng Giáo Dục và Đào tạo huyện Krông Ana – Trường Trung Học Cơ Sở Tô Hiệu – Địa chỉ : Xã Ea Bông, Huyện Krông Ana, Tỉnh Đăk Lăk – Điện thoại : 05003650606. Email Thông tin về giáo viên – Họ và tên giáo viên : Diệp Bích Thùy – Ngày sinh : 18 – 06 – 1976. Môn : Tiếng Anh – Điện thoại : 0974450291. Email: [email protected] +Phiếu mô tả hồ sơ dạy họcdự thi của giáo viên. PHỤ LỤC III PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN 1. Tên hồ sơ dạy học UNIT 6: THE ENVIRONMENT LESSON 3: READ (English 9) ( Tích hợp kiến thức môn Tiếng Anh lớp 9 và môn Giáo Dục Công Dân lớp 8 giúp học sinh hình thành ý thức bảo vệ môi trường, phát huy tính tự giác và tính cộng đồng trong mỗi cá nhân.) 2. Mục tiêu bài học Sau khi học xong bài học này học sinh có khả năng: * Kiến thức: – Hiểu được rõ hơn vấn đề ô nhiễm môi trường và tầm quan trọng của việc giữ gìn môi trường không bị ô nhiễm. – Nhận thức được một số nguyên nhân mà con người đã gây ra ô nhiễm môi trường. – Liên hệ lại với chương trình Giáo Dục Công Dân lớp 8 ( Bài 9 : Góp phần xây dựng nếp sống văn hóa cộng đồng, Bài 11: Lao động tự giác và sáng tạo ) để phát huy tính cộng đồng và tính tự giác trong suy nghĩ và trong hành động. Biết yêu quý thiên nhiên và bảo vệ môi trường. * Kỹ năng: – Sử dụng Tiếng Anh để có thể nghe, nói, đọc, viết các vấn đề về môi trường. – Trang bị những kiến thức cần thiết trong việc bảo vệ môi trường. – Linh hoạt trong các hoạt động cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường. * Thái độ: – Có ý thức bảo vệ môi trường, yêu quý thiên nhiên, quan tâm đến cộng đồng, biết yêu thương mọi người, yêu quê hương, yêu tổ quốc . – Rèn luyện ý thức cộng đồng cao và phát huy tính tự giác. 3. Đối tượng dạy học của bài học – Học sinh lớp 9. ( Lớp học gồm 30 học sinh ) – Trình độ của các em ở mức trung bình nên khi giảng nội dung bài học trong sách giáo khoa giáo viên giảng bằng Tiếng Anh, nhưng khi đưa phần tích hợp và liên hệ thực tế giáo viên có thể cho các em sử dụng Tiếng Việt ở một số phần để đảm bảo các em có thể hiểu được vấn đề một cách triệt để và liên hệ thực tế tốt hơn. 4. Ý nghĩa của bài học – Bài học có ý nghĩa, vai trò rất lớn trong cuộc sống đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Thời kỳ mà vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết và cả thế giới đang chung tay trong công tác bảo vệ môi trường. Bài học cung cấp cho học sinh một số kiến thức về vấn đề ô nhiễm môi trường bằng Tiếng Anh. Đồng thời giúp học sinh nâng cao được ý tự giác, ý thức cộng đồng, ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ thế giới mà chúng ta hiện đang sinh sống . 5. Thiết bị dạy học, học liệu: – Giáo án, đề cương bài giảng. – Máy chiếu, máy tính cá nhân, camera, phấn viết… – Phiếu trắc nghiệm ( giấy A4 ) 6. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học Cấu trúc bài giảng (Thời gian : 45 phút) TT Nội dung Thời gian Phương pháp chủ đạo 1 Ổn định lớp (Stabilization.) 1’ Hỏi đáp 2 Dẫn nhập ( Warm-up: ) 3’ Hình ảnh, hỏi đáp 3 (Leading / Pre- reading) 9’ Trực quan, thuyết trình, hỏi đáp 4 Giải quyết vấn đề (While – reading ) 16’ Thuyết trình, trực quan,hỏi đáp, chơi trò chơi. 5 Kết thúc vấn đề ( Post –reading ) 14’ Trực quan, thuyết trình, hỏi đáp. 6 Hướng dẫn tự học ( Homework ) 2’ Thuyết trình HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC – Hướng dẫn vận dụng kiến thức liên môn ( Giáo dục công dân ) để hình thành ý thức. – Đánh giá sản phẩm theo từng cá nhân I. ỔN ĐỊNH LỚP HỌC: Thời gian: 1’ – Chào hỏi: Good morning – Kiểm tra sĩ số: 30/30 II. THỰC HIỆN BÀI HỌC: Thời gian 3’ Nội dung WARM UP Hoạt động của Giáo viên và học sinh I. Dẫn nhập ( Warm-up ) Giáo viên (Gv): Hiện một số hình ảnh trên bảng và hỏi học sinh một số câu hỏi về ý thức đối với những hành động gây ô nhiễm môi trường: Học sinh (Hs): Trả lời Gv: Hỏi tiếp Hs: Lắng nghe và trả lời: Gv: Dẫn dắt học sinh vào bài Now we study a lesson about people’s attitute to the environmental pollution. 9’ UNIT 6: THE ENVIRONMENT Lesson 3: Read ( Pre-reading ) 1. Từ mới Gv: Giới thiệu bài mới Hs: Lắng nghe. Gv: giới thiệu từ mới bằng tranh. Gv: What is this? Hs: It is a treasure ( kho báu) (Học sinh đã có khâu soạn bài trước ở nhà nên các em có thể dể dàng trả lời những câu hỏi này) Gv: Cho học sinh đọc đồng thanh theo âm cài sẵn Hs: Đọc từ ( đọc cá nhân, đọc cả lớp) Gv: Gọi một số em đứng tại chỗ đọc. Hs: đọc từ Gv: sữa lỗi phát âm 1. Kiểm tra việc hiểu từ Gv: Hiện lên bảng một phần bài tâp kiểm tra từ, cho một hs đọc qua, giải thích một số cụm từ mới và gọi bất kì học sinh nào lên chọn từ của cột A phù hợp với cụm từ của cột B Hs: làm theo yêu cầu của giáo viên Gv: Hiện kết quả và sữa sai (nếu có) 16’ 1.Read the poem about the environment: 2. Match the lines of the poem to the suitable headings: Lines Headings Answer 1 1 – 6 a. The mother’s request to the son. 1 - 2 7 – 8 2 - 3 9 – 12 c. Effects of pollution in the future. 3 - 4 13 – 16 d. The son’s ideas of polluting the place. 4 - 3. True or False *Đáp án: 2. True 3. True 5. True 4.Complete the open – dialogue: 5.Answer the questions (1 – 5) on page 51 a) According to the mother, what will happen if the pollution goes on? b) Who does the mother think pollute the environment? c) What will happen to the boy if he keeps on asking his mother such questions? d) Do you think the boy’s question ( lines 9 – 10 ) is silly? Why ( not )? 6. Lucky number. III. Giải quyết vấn đề (While – reading ) 1.Read the poem about the environment: Hs: Lắng nghe Gv: Đọc lại bài một lần nữa giải thích thêm một số cụm từ, và yêu cầu học sinh đóng vai đọc tại chỗ Hs: Đóng vai đọc theo cặp. Gv: gọi một cặp đọc trước lớp. 2. Matching (bài tập nối) Gv:Hiện lên bảng bài tập “Matching” Cho học sinh làm bài tập “Matching” nối các dòng thơ với ý chính cho phù hợp ( mục đích của phần này là giúp các em hiểu rõ hơn nội dung ý chính của bài thơ) Hs: Làm việc theo nhóm (4 em) Gv: trao đổi bài làm của các nhóm và gọi đại diện của một nhóm đứng lên đọc to kết quả và hiện đáp án so, sánh kết quả Hs: Nhóm này chữa bài của nhóm kia và so kết quả. Gv: Nhận xét 3. True/False (bài tập đúng /sai) Gv: Hiện bài tập “True/ False” ( đúng / sai ) lên bảng, gọi một học sinh đọc qua, cho các em suy nghĩ 1 phút , sau đó gọi một số cá nhân chọn qua một lượt True(đúng) hoặc False (sai). . Hs: 5 em chọn 05 câu. Gv: Gọi hs khác nhận xét, sau đó bấm vào nút còn lại sẽ hiện đáp án chính xác, nếu chọn False(sai) thì nhấp chuột một lần nữa sẽ chữa câu đó thành đúng. 4. Gap filling: ( điền vào chỗ trống) Gv. Hiện một đoạn hội thoại mở (chứa nội dung tóm tắt ý chính của bài thơ), cho hs làm việc theo cặp điền vào chỗ trống. ( Mục đích của bài tập này là giúp các em hiểu sâu hơn nội dung của bài và cung cấp thêm một số mẫu câu bằng tiếng Anh để các em có thể sử dụng trong phần trả lời câu hỏi sau.) Hs: làm việc theo cặp Gv: Gọi một cặp thực hành trước lớp, và hiện đáp án sữa lỗi. 5. Anwser the questions: ( Trả lời câu hỏi ) Gv: Cho hiện lên bảng nội dung câu hỏi, gọi một hs đọc qua, yêu cầu các em thực hành theo cặp hỏi và trả lời. Hs: làm theo cặp 6. Play a game “ Lucky number” Gv: Chia lớp thành 02 nhóm, nhóm A và nhóm B chơi trò chơi con số may mắn, có 06 con số, 02 số may mắn, hai nhóm lần lượt chọn, nếu chọn trúng số may mắn, được thưởng 10 điểm, nếu chọn trúng 04 số kia phải trả lời câu hỏi, trả lời đúng mỗi câu được 10 điểm ( nội dung câu hỏi của phần trên ). Chọn xong hết lược, đội nào được nhiều điểm hơn sẽ thắng. Hs: Chơi theo đội 14’ 2.Look at the picture and answer the questions. What should we do to protect the environment? 1.Sơ đồ tư duy: What should we do to protect the environment? 3. Read the conversation. 4. Let watch a video and anwser the qustions. Trong năm 2014, nhờ vào điều gì mà Đảng và nhân dân đã buộc Trung Quốc phải rút giàn khoan 981 khỏi quần đảo Trường Sa thân yêu của chúng ta sau 75 ngày chiếm đóng. IV. Kết thúc vấn đề ( Post –reading ) ( PHẦN DẠY TÍCH HỢP ) Gv: Cho hiện ra một số hình ảnh về việc con người đã gây ra ô nhiễm môi trường bằng nhiều cách và hỏi các em bằng Tiếng Anh. What should we do to protect the environment? Hs. Trả lời ( có thể trả lời bằng Tiếng Anh hoặc Tiếng Việt. Nếu chúng ta bắt buột các em trả lời bằng Tiếng Anh thì các em không thể nói hết ý mình muốn nói, vì kiến thức Tiếng Anh của các em có giới hạn. Gv có thể giúp các em chuyển tải những suy nghĩ của các em từ Tiếng Việt sang Tiếng Anh) Gv: Hiện bản đồ tư duy hệ thống lại những ý chính giúp các em hiểu được vấn đề tốt hơn. Gv: Nhấn mạnh rằng ngoài nội dung nói về ô nhiễm môi trường, bài thơ còn gửi đến chúng ta một thông điệp khác rất quan trọng, sau đó Gv đưa một đoạn đối thoại vắn tắt của người mẹ và cậu con trai, yêu cầu học sinh đọc kỷ lai rồi Gv đặt câu hỏi: Hs: trả lời Gv: Cho các em xem qua một đoạn video về một số tình huống thường gặp trong cuộc sống hàng ngày và cách cư xử đúng đắn của những người tốt, rồi đặt câu hỏi: Hs: Trả lời ( đáp án là: Voluntary character and community character ( tính tự giác và tính cộng đồng) Gv: Kết luận Hs: Lắng nghe Gv: Cho hiện một bức tranh về việc người dân Việt Nam ta biểu tình phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan 981 trái phép trên Đảo Trường Sa của chúng ta. Sau đó đặt câu hỏi: Hs: Trả lời Nhờ ý thức tự giác và tính cộng đồng cao. Gv: Kết luận Hs: Lắng nghe 2’ Homework: – Learn by heart new vocabulary – Practice reading the poem – Do Ex a, b / p.51 again – Prepare unit 6. Write V. Hướng dẫn tự học ( Homework ) Gv. Nhắc nhở Hs học bài ở nhà Hs: Lắng nghe và nhớ 7. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập – Sau khi học xong, giáo viên cho học sinh làm bài kiểm tra tại lớp. – Nội dung bài kiểm tra gồm 50% kiến thức bài học ( nội dung Tiếng Anh ) 50% kiến thức tích hợp liên môn ( nội dung Tiếng Việt ) – Hình thức kiểm tra là làm bài trắc nghiệm trên giấy. Bài kiểm tra gồm 16 câu hỏi trắc nghiệm, mỗi câu 1.25 điểm, tổng điểm là 20, sau đó quy về điểm 10. ( Có phiếu trắc nghiệm kèm theo trong hồ sơ.) – Thời gian làm bài là 15 phút. 8. Các sản phẩm của học sinh: Tổng số học sinh : 30 em Kết quả bài kiểm tra đạt : 95% ( có gửi kèm bài làm của học sinh trong hồ sơ) Hiệu Trưởng Ngày 05 tháng 01 năm 2024 Giáo viên Diệp Bích Thùy c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp; * Cần chuẩn bị tốt các khâu sau: – Giáo viên phải phải nắm rõ nội dung chương trình môn học Tiếng Anh cấp THCS. – Giáo viên phải có am hiểu một số kỹ năng soạn giảng sử dụng công nghệ thông tin. – Giáo viên phải linh hoạt trong khâu tích hợp kiến thức, phải khoa học, logich, không áp đặt, máy móc. – Giáo viên phải xây dựng một đề kiểm tra trắc nghiệm mang kiến thức bao quát, khoa học vừa có Tiếng Anh vừa có Tiếng Việt. – Phải chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học như: máy chiếu, laptop, loa … d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp; – Học sinh phải tập trung chú ý, phát huy hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân. Giáo viên phải bao quát lớp, linh hoạt giúp các em trả lời tốt các câu hỏi, có thể liên hệ thực tế giáo dục đạo đức cho các em ở những nội dung cho phép. Ở phần tích hợp thực hiện linh hoạt sẽ giúp các em hiểu bài vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống được tốt hơn. e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu II. 4. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC: Sau khi thực hiện xong bài giảng giáo viên cho học sinh làm bài kiểm tra ( cả những lóp không áp dụng phương pháp dạy học tích hợp cũng làm bài này) Nội dung đề kiểm tra: To Hieu Secondary school PHIẾU KIỂM TRA KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Class 9A5 Môn : Tiếng Anh Name: Thời gian : 15 phút Trong bài kiểm tra này các em sẽ vận dụng kiến thức liên môn (Tiếng Anh, Giáo Dục Công Dân và những hiểu biết thực tế) để trả lời 16 câu hỏi trắc nghiệm. 08 câu bằng Tiếng Anh, 08 câu bằng Tiếng Việt. If we pollute the , we will have no fresh water to use? air water forests 2. We are going to take part in cleaning the areas near our school next Sunday. a. into b. about c. up 3. Governments should . heavily anyone doing harm to the environment. a. fine b.

Một Số Kinh Nghiệm Dạy Văn Học Nước Ngoài Ở Cấp Thcs

ểu sâu sắc tác giả và nội dung toàn bộ tác phẩm. Thực ra, đây chỉ là một đoạn trích trong tác phẩm "Tiếng gọi nơi hoang dã"của Giắc-lơn-đơn, một nhà văn Mỹ nổi tiếng thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. "Tiếnggọi nơi hoang dã" là một kiệt tác của nhà văn nhằm chứng minh: mâu thuẫn giữa sự tàn bạo dã man của cái gọi là văn minh và sự tự do của loài vật sống hoang dã trong thiên nhiên. Kiệt tác này được nhà văn viết từ 1903. Truyện kể về số phận của con chó Bấc bị bắt cóc mang đi khỏi trang trại của một người chủ giàu có ở Ca-li-phoóc-ni-a, và bị ném vào vùng Bắc cực hoang dã trong cuộc săn vàng của con người. Thiên nhiên nguyên thuỷ, sự nghiệt ngã tàn bạo của môi trường đã đánh thức và làm phát triển mạnh mẽ trong đáy sâu thẳm của nó những bản năng thú dữ của tổ tiên nó. Nó đã sống với đủ hạng người phần lớn họ là những kẻ độc ác, tàn bạo đối với thú vật. Chỉ có một người là chiếm được thiện cảm của nó bằng lòng nhân đạo và tình thương yêu rộng lớn. Đó là Giôn Thoóc Tơn. Truyện toát lên một nhân sinh quan rõ rệt: Lòng thương yêu loài vật, ông cho rằng chỉ có trên cơ sở một tình thương yêu vô hạn đối với loài vật mới chiến thắng được những con vật, thậm chí là những con vật dữ tợn. Tình yêu thương thực sự và nồng nàn đến mức cuồng nhiệt dấy lên trong lòng con chó Bấc thì đến Giôn Thoóc Tơn mới khơi dậy được những điều đáng tìm hiểu là vì sao mà Bấc yêu thương Giôn Thoóc Tơn đến mức có những hành động đep đẽ thế? Bởi vì con người này đã cứu sống nó. Nhưng hơn thế nữa, con người này là một ông chủ lý tưởng. Anh chăm sóc chó của mình như thể chính nó là con cái của anh vậy. Có đọc toàn bộ tác phẩm ta mới thấy hết tình thương yêu thực sự của Giôn Thoóc Tơn đối với loài vật mà cụ thể là đối với con chó Bấc trong sự so sánh với bao nhiêu ông chủ trước đó, trong bối cảnh khốc liệt của cuộc hành trình dai dẳng dài dặc trên những con đường ngập tuyết, trong cơn tuyệt mệnh của đàn chó. Chính đây mới là phần cốt yếu của tác phẩm, mới là dụng ý nghệ thuật của tác giả. Chỉ có trên cơ sở tình yêu vô hạn đối với loài vật mới chiến thắng được những con vật. Nội dung của tác phẩm là thế, tư tưởng của tác phẩm cũng là thế nhưng nếu chỉ dựa vào tên của văn bản, qua hai chiến côngcủa con chó, nhiều người chỉ thấy nổi lên hình ảnh "Con chó Bấc" mà thôi. Dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài cũng là dạy-học tác phẩm văn chương nói chung. Đó cũng là tác phẩm văn chương dân gian, văn chương cổ điển và văn chương hiện đại. Đó cũng là tác phẩm trữ tình và tự sự. Dạy học tác phẩm văn 5 chương nước ngoài cũng đến phải vận dụng các phương pháp và biện pháp dạy học tác phẩm văn chương nói chung nhưng với tác phẩm văn chương nước ngoài, do những đặc điểm, những khó khăn như đã nói ở trên nên ta cần vận dụng những hình thức, biện pháp sao cho hợp lý và đạt được hiệu quả giờ dạy. 2a. Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm: Tác phẩm văn chương bao giờ cũng mang trên mình dấu ấn của một thời lịch sử nhất định. Vì vậy việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác bao giờ cũng là một yêu cầu có tính nguyên tắc. Dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài thì việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và việc sáng tác thật là việc vô cùng quan trọng. Vì đây là những điều rất xa lạ đối với học sinh. Sự phụ thuộc của tác phẩm văn chương vào hoàn cảnh lịch sử sẽ rất khó giải thích cho học sinh nếu như không gắn liền với những điểm phân tích, đánh giá chung với hoàn cảnh cuộc sống và hoạt động sáng tác của nhà văn. Có như thế mới giúp học sinh có điều kiện tìm hiểu sâu tác phẩm. 2b. Tìm hiểu phong tục, tập quán sinh hoạt, quan niệm đạo đức, thẩm mĩ của dân tộc đã sản sinh ra tác phẩm trong mối tương quan với văn hoá dân tộc. Để hiểu cảm đúng tác phẩm văn chương nước ngoài, giáo viên cần giúp học sinh hiểu được phong tục, tập quán sinh hoạt cũng như quan niệm đạo đức, thẩm mĩ của dân tộc mà tác phẩm phản ánh trong mối tương quan với nền văn hoá dân tộc mình. Đặt tác phẩm văn học vào mối tương quan văn học của hai dân tộc là để khai thác đến cạn kiệt những tư tưởng hữu dụng cho đời sống tinh thần công dân tương lai, kích thích những truyền thống tốt đẹp hiện tại, để hiểu sâu sắc hơn nhân loại. Cho đến nay, dạy học văn học phục hưng Anh hay Tây Ban Nha trong nhà trường vẫn là vấn đề khó với thầy và trò. Thời đại phục hưng ở Châu Âu, từ Ý qua Pháp rồi đến nhiều nước. Ở mỗi nước lại có màu sắc riêng. Vì sao chàng Đôn- ki-hô-tê lại nói nhiều lời có cánh? Nhưng chính chàng lại là một hiệp sĩ đạo không hợp thời, hình ảnh hiệp sĩ đạo ở Việt Nam học sinh khó hình dung ra. Đôn Ki-hô-tê yêu tự do, công bằng, nhân đạo, Xan-trô pan-xa thì thực tế, lạc quan, lành mạnh, yêu đời. Cả hai nhân vật chung đúc lại đã làm nổi bật truyền thống đạo đức của nhân dân Tây Ban Nha. Cái mê sảng và cả cái tỉnh táo đến siêu việt của Đôn-ki hô-tê chứng tỏ Xéc-van-tex tán thành lý tưởng nhân đạo là tuyệt vời nhưng khó thực hiện được trong thời đại mà tầng lớp quý tộc lại toan làm cái đó là mơ hồ ảo tưởng. Tác phẩm có nhạo báng sách hiệp sĩ nhưng cơ bản vẫn là khẳng định khát vọng, lý tưởng nhân văn cao cả của những con người khổng lồ trong một xã hội đầy đen tối xấu xa. Nếu không cảnh giác, đấy chỉ là một ảo tưởng, một trò cười lịch sử. Hoặc cái lối "vẽ trăng thấy mây", "ý ở ngoài lời", "ý đến mà bút chẳng cần đến", hay việc sử dụng vần (nhất, tam, ngũ bất luận; nhị , tứ, lục phân minh), những kiểu đối: Đối thanh, đối ý (24 loại), những bút pháplấy"động" tả "tĩnh"; "cao" tả "thấp"; "quá khứ" tả "hiện tại". Trong thơ Đường cũng cần được học sinh hiểu biết trước khi đi sâu vào tìm hiểu những bài thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Hạ Tri Chương. Đặt tác phẩm trong mối tương quan văn hoá của hai dân tộc sẽ giúp cho việc nghiên cứu tác phẩm cụ thể nhận ra và làm phong phú hơn đời sống tâm hồn và tình cảm dân tộc của mỗi người khi tiếp xúc với tác phẩm. Trên thực tế trong quá trình tiếp xúc với tác phẩm dù thế nào cũng vẫn gợi ra sự liên tưởng so sánh nhất định nhưng trong chương trình văn học nước ngoài ở Trung học cơ sở, có rất nhiều điểm khác nhau, thậm trí trái ngược nhau trong cách cảm, cách nghĩ và cách diễn đạt bởi thế, để học sinh hiểu cảm đúng tác phẩm, cần phải giúp học sinh rút ngắn khoảng cách này lại. 2c. Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn bản ngôn từ và văn bản hình tượng. Văn chương nước ngoài đến với giáo viên và học sinh đều qua lời dịch của các dịch giả. Văn bản tác phẩm mà giáo viên và học sinh được dạy-học là văn bản dịch chứ không phải là nguyên tác. Như thế người dịch đã phải thực thi một hoạt động rất phức tạp là: - Chuyển dịch một tác phẩm từ một ngôn ngữ khác. - Chuyển dịch một tác phẩm từ một thời gian này (thời gian lich sử xuất hiện nguyên bản) sang một thời gian khác (thời gian lịch sử của bản dịch). - Chuyển dịch một tác phẩm từ một không gian văn hoá này sang một không gian văn hoá khác. Như vậy, dịch bản là văn bản hình tượng. Dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài chủ yếu là dạy học trên văn bản hình tượng gặp phải những bài thơ nước ngoài từ nguyên bản đến bản dịch nghĩa, sang đến bản dịch thơ thì về mặt ngôn từ đã có sự khác nhau rất xa những bài thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch trong thơ Đường đều nằm trong trường hợp đó. Thế là việc bám lấy ngôn từ để khai thác như với trường hợp thơ nói chung là không thể được. Nhưng các đặc điểm khác của thi pháp bài thơ lại có thể giúp ta hiểu cảm bài thơ thì lại phải khai thác. Tuỳ từng bài mà có cách vận dụng linh hoạt, sáng tạo để đạt hiệu quả cao trong các tiết dạy và học tác phẩm. Đó là điều cần được quán triệt trong dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài. Ta có thể thấy, biện pháp so sánh, đối chiếu là biện pháp đặc trưng, đắc dụng trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài. Biện pháp đó được thực hiện trong việc đối chiếu bản dịch với nguyên tác, so sánh các chi tiết, các hình ảnh cùng một phong cách, một giọng điệu để giúp học sinh hiểu cảm tác phẩm sâu sắc hơn. VD: Khi dạy văn bản "Tình dạ tứ"(Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) của Lý Bạch, qua biện pháp đối chiếu, so sánh bản dịch thơ với nguyên tác ta thấy: nguyên tác thơ viết là "minh nguyệt quang", bản dịch thơ dịch là "ánh trăng rọi", dùng từ "rọi" (động từ), thay cho "sáng' (tính từ) đã làm nhạt mối liên tưởng trong bài thơ vì trăng phải sáng nhà thơ mới nhầm là sương, hơn nữa, trăng rọi và sương phủ làm cho bài thơ tăng thêm hai chủ thể, làm mờ đi cái chủ thể cô độc, nhớ quê. Trong nguyên tác chỉ có một chủ thể là Lý Bạch. Trong bản dịch việc thêm hai chủ thể nữa đang hoạt động làm giảm đi cái thanh tĩnh, yên ắng của đêm khuya. Do đó để học sinh cảm nhận được sâu sắc hơn hai câu thơ đầu: Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Dịch: "Đầu giường ánh trăng rọi/ Ngỡ mặt đất phủ sương". Giáo viên cần đặt câu hỏi có tính chất gợi mở để dẫn dắt học sinh khi tìm hiểu: Bản dịch nghĩa theo nguyên tác là dịch "quang" là "sáng". Nhưng câu thơ dịch đổi thành "rọi". Em thấy "sáng" và "rọi" cũng như "chiếu" khác nhau như thế nào? Em có thích từ "rọi" trong bản dịch này không? tại sao? Tại sao nhà thơ lại xúc cảm từ một ánh trăng đầu giường? Trong hai câu, câu nào là miêu tả, câu nào là biểu cảm? Quan hệ giữa tả và cảm có hợp lý không? Với thể loại tác phẩm tự sự thì hình tượng nhân vật trong các bản dịch cần được tìm hiểu, khai thác đúng mức. Nếu không sẽ khó lòng đạt được hiệu quả như mong muốn. Chẳng hạn ,với "chiếc lá cuối cùng" của O.Henry trong ngữ văn 8. Hình tượng "chiếc lá cuối cùng" không chỉ gợi lại ở đó mà còn gợi ta đến tấm lòng của người nghệ sĩ nghèo của nước Mĩ mà đặc biệt là tấm lòng của bác Bơ- men đã tạo lên kiệt tác "chiếc lá cuối cùng". Câu chuyện ngợi ca tình cảm trong sáng, cao đẹp của những nghệ sĩ chân chính, ca ngợi sự hy sinh quên mình của cụ Bơ- men để vẽ chiếc lá, cứu sống Giôn- xy. Những chiếc lá trường xuân , theo qui luật sinh tồn của tạo hoá, từng chiếc lá một theo mùa đông rét mướt qua đi. chiếc lá cuối cùng sót lại không phải bởi cây ấy là cây trường xuân, không phải bởi lá cây là lá trường xuân mà bởi nét vẽ tài hoa của ông lão Bơ-men làm trường xuân lá ấy. Cây tuy là trường xuân cũng không giữ được lá của mình. Người tuy hữu hạn nhưng lại giữ được lá. Vậy ra điều duy nhất để giữ được lá kia lại trên dương thế này là tấm lòng. Tấm lòng đã thăng hoa thành nghệ thuật. Và nghệ thuật đã mang thiên chức cứu người. Với O.Henry nghệ thuật phải phụng sự cái đẹp, phải phụng sự cuộc sống. Mà cuộc sống, tồn tại trong ý nghĩ cao đẹp nhất, là phải biết hi sinh. Có thể nói, nhân loại tồn tại trong ý thức cao đẹp nhất, là phải biết hi sinh.Và có thể nói, nhân loại tồn tại và phát triển là nhờ sự hi sinh kế tục của các thế hệ tiếp nối. Xét ở góc độ này, O.Henry đặt vấn đề về ý nghĩa tồn tại và khả năng duy trì sự sống của con người. Cuộc sống là đáng quí, nhưng theo Bơ-men, nếu cần, lão sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình vì những điều cao quí hơn. đến đây ta thấy rõ hơn dụng ý nghệ thuật tạo độ căng của O.Henry.Sử dụng thủ Xét ở góc độ khác, "Chiếc lá cuối cùng" được xem như là một truyện ngắn có kết cấu mẫu mực vào hạng bậc nhất. Cốt truyện, nhân vật, giọng điệu, trần thuật, đối thoại. Đều có thể được xem như là một trong những khuôn mẫu của thể loại này ở thế kỉ XIX. - Đề tài thường trang trọng, thi ý thường nhiều tầng nghĩa gợi một màu sắc trí tuệ. - Ngôn ngữ Đường thi thường mang tính khái quát cao chứ rất ít đi vào miêu tả chi tiết. - Trong quá trình thể hiện, thơ Đường thường thể hiện những nguyên tắc rất chặt chẽ tạo sự hài hoà kì thú. Mặt khác, nó lại sử dụng vần (nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh), trên cơ sở những tiểu đối: Đối thanh, đối ý. - Thể cách luật trong thơ Đường là qui tắc kết hợp luật bằng trắc để tạo ra một sự hài âm, "niêm" là sự kết dính hàng dọc tạo được sư êm ái, chất trí tuệ và "nỗi buồn thiên cổ" trong thơ Đường. Vì vậy, khi dạy và học thơ Đường nếu chúng ta đặt được tác phẩm vào những nét tiêu biểu của thi pháp thơ Đường thì rất có thuận lợi khi khai thác giúp học sinh tiếp nhận, cảm và hiểu nó một cách sâu sắc hơn. Một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất của dạy và học phát triển hiện nay là đi "từ khái quát đến cụ thể". Trước đến nay dạy và học thơ Đường chúng ta thường chủ yếu khám phá cấu trúc: đề, thực, luận, kết (đối với thể thất ngôn bát cú) hoặc: khai, thừa, chuyển, hợp (đối với thể thất ngôn tứ tuyệt). Nhưng trên thực tế của khối lượng đồ sộ những bài thơ đường, nó thể hiện cả một trào lưu thơ ca độc đáo: ý tứ, đề tài của trào lưu này thể hiện cả một ý chí sáng tạo. Thi ý thường nhiều tầng nghĩa. Luật bằng trắc: 1-8, 2- 3, 4-5, 6-7. Sự đối ngẫu thường diễn ra ở các câu 3-4, 5-6 ngoài đối thanh "bằng", "trắc", còn có tới 24 loại đối thuận, nghịch, tương thành, tương phản mà người giáo viên dạy văn cần quan tâm khai thác trong dạy và học, giúp học sinh hiểu đến cạn kiệt những tầng ý nghĩa trong thi tứ và thi ý của từng câu thơ Đường theo đặc trưng thi pháp, thể loại. 3, Kết quả đạt đươc: Sau khi vận dụng những kinh nghiệm này vào thực tế giảng dạy, tôi đã mạnh dạn thực nghiệm đối với khối 6 (ở lớp 6B và 6A), khối 8 (lớp 8D và 8E), còn ở khối 7 và khối 9 tôi chưa có điều kiện áp dụng. Để biết được kết quả của việc vận dụng "kinh nghiệm trong dạy-học các thể loại văn học nước ngoài". Tôi đã tiến hành khảo sát ở các tiết văn học của khối 6, khối 8 . Cách khảo sát được tiến hành như ở phần: Điều tra thưc trạng trước khi nghiên cứu. Kết quả khảo sát như sau: Khối Lớp Sĩ số Giỏi khá Trung bình Yếu 6 6a 40 6 15 10 25 21 52.5 3 7.5 6b 40 4 10 11 27.5 20 50 5 8 7 8d 39 4 10 13 33 17 44 5 13 8e 41 7 17 14 34 15 36 5 12 Với kết quả khảo sát như trên, tôi nhận thấy rằng những biện pháp và hình thức dạy-học các tác phẩm văn học nước ngoài đã góp phần phục vụ hữu ích và góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng của các giờ dạy-học tác phẩm văn học nước ngoài. Phần lớn học sinh nắm chắc và nắm sâu kiến thức bài hoc, hiểu và cảm thụ sâu sắc những giá trị đặc sắc về nghệ thuật, nội dung của các tác phẩm văn, thơ nước ngoài. Có kỹ năng tìm hiểu, khám phá, phân tích những tác phẩm văn chương nước ngoài theo đặc trưng, thể loại. III, Bài học kinh nghiệm. Qua thời gian nghiên cứu cùng các đồng nghiệp của mình áp dụng đề tài này vào giảng dạy phần văn học nước ngoài trong chương trình ngữ văn 7 và 8, tôi thấy đây là những kinh nghiệm tốt để giúp người giáo viên dạy văn khi đứng trước những tác phẩm văn học nước ngoài có thể tự tin và chủ động trong khai thác, phân tích và tiếp cận các tác phẩm văn chương đó để ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của các tiết dạy-học văn. Để có được kết quả cao khi thực hiện đề tài này, bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm sau: * Với giáo viên: - Giáo viên phải thực sự là người yêu nghề, yêu văn chương, có kiến thức sâu sắc về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, quan niệm thẩm mỹ của các dân tộc đã sản sinh ra những tác phẩm mà mình sẽ trực tiếp giảng dạy. - Có ý thức tìm đọc và hiểu đúng, hiểu trọn vẹn các tác phẩm văn chương nước ngoài phải dạy. - Nắm chắc hệ thống phương pháp dạy-học tác phẩm văn chương theo loại thể, đặc biệt là các tác phẩm văn chương nước ngoài. *Với học sinh: - Các em phải là những bạn đọc thưc sự say mê, yêu thích văn học đặc biệt là các tác phẩm văn chương nước ngoài. - Mỗi học sinh luôn có ý thức đọc trước tác phẩm, tự tìm hiểu hệ thống câu hỏi qua phần đọc hiểu văn bản. - Mỗi học sinh luôn có ý thức tự rèn luyện các kỹ năng phân tích, tìm hiểu các yếu tố ngôn ngữ, nhân vật trong các tác phẩm văn chương nước ngoài. Vận dụng tốt những kinh nghiệm trên, theo tôi kết quả các giờ học văn phần văn học nước ngoài mới có kết quả cao. Đồng thời khắc phục được tình trạng lười học, chán học và ngại học bộ môn do quan niệm phần văn học này là khó của học sinh. IV. Những vấn đề kiến nghị. Hiện nay chất lượng dạy và học văn đang thu hút sư chú ý quan tâm của dư luận xã hội và các bậc phụ huynh học sinh. Trong chương trình văn học được giảng dạy ở tất cả các trường THCS, phần văn học nước ngoài chiếm một khối lượng không nhỏ bao gồm các tác giả tác phẩm của nhiều nền văn học khác nhau trên thế giới. Việc giảng dạy phần văn học nước ngoài thường gặp khó khăn về nguồn tư liệu, về cách tiếp nhận và việc khai thác tìm hiểu các giá trị thẩm mĩ của các tác phẩm văn học. Vì vậy để nâng cao chất lượng các giờ dạy và học văn, đặc biệt là phần văn học nước ngoài. Tôi mạnh dạn nêu một số kiến nghị sau: +Tăng cường bồi dưỡng kiến thức lịch sử văn hoá, văn học, ngoại ngữ cho giáo viên dạy văn. + Nên giới thiêu các tác phẩm trọn vẹn để minh hoạ bằng đoạn trích chứ không nên trích giảng. Từ đó tiến tới phân tích minh hoạ tiêu biểu. + Với các giáo viên đứng lớp cần tạo cho việc chiếm lĩnh thơ, văn nước ngoài bằng những biện pháp khác nhau với từng loại cụ thể của từng tác giả khác nhau, tránh sự áp đặt Phần III: KẾT LUẬN Tôi xin chân thành cám ơn! Hồng Dương, ngày 19 tháng 04 năm 2024 Phạm Thị Thu Hằng Phần I: Đặt vấn đề Phần II: Giải quyết vấn đề I. Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu. 1. Hình thức và nội dung khảo sát . 2. kết quả khảo sát. II. Những công việc thức tế đã làm và kết quả đạt được. 1. Những nguyên tắc chung. 2. Những công việc thực tế đã làm. 3. Kết quả đạt được. III. Bài học kinh nghiệm. IV. Những vấn đề kiến nghị. Phần III:Kết luận

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Cấp Thcs

Ví dụ: Năm học này 2024-2024 có học sinh Tuấn, Tới, Khánh, rất hiếu động, nghịch ngợm, hay bỏ tiết ra ngoài,nghỉ học không lý do, trong giờ học thì nói chuyện riệng hoặc ngủ trong lớp,vi phậm nội quỵ đi xe máy, đánh nhau, thường dùng tay đập vào bàn trong giờ học, tóc để chỏm thỉnh thoảng doạ cờ đỏ khi bị ghi tên vì phạm lỗi, khi bị các thầy cô nhắc nhở thì thường tỏ ra chống đối, tỏ thái độ bất cần. Qua tìm hiểu tôi đã dùng nhiều biện pháp khuyên bảo răn đe. Thấy được sự quan tâm của giáo viên chủ nhiệm em đã có tiến bộ rõ rệt. Trong đợt thi đua hội khỏe phù đổng cấp trường, có môn đẩy gậy em Tuấn cũng tham gia. Hay như học sinhTới, Khánh nghỉ học vì ham chơi không thích đi học, lúc này tôi cần tăng cường các hoạt động tập thể để thu hút học sinh mặt khác kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, nhà trường và chính quyền địa phương để đưa ra những biện pháp kịp thời.

giải pháp để thực hiện kế hoạch đó. - Người giáo viên chủ nhiệm tốt không những là người quản lí học sinh tốt mà còn là người bạn biết cảm thông và chia sẻ những khó khăn cùng học sinh. - Đầu tiên là tìm hiểu học sinh lớp mình chủ nhiệm có tổng bao nhiêu học sinh, bao nhiêu học sinh dân tộc thiểu số, phát hiện ra những học sinh có năng khiếu văn nghệ hoặc thể thao trong lớp, tìm hiểu em nào có thành tích gì hay thường vi phạm những gì, từ đó định hướng xây dựng những biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Tiếp theo để xây dựng đội ngũ ban cán sự lớp,‎ tôi cho các em bàn bạc, bình bầu ban cán sự lớp và tạm thời chấp nhận đội ngũ ấy kèm theo điều kiện sẽ có thưởng và có phạt rõ ràng. Giáo viên chủ nhiệm có hướng đưa các bạn dân tộc thiểu số có lực học khá nằm trong ban cán sự lớp. Sự phân công nhiệm vụ cụ thể như sau: Nhiệm vụ của lớp trưởng: + Theo dõi, kiểm tra mọi hoạt động của lớp. + Điểm danh và ghi sĩ số của lớp vào góc trên (bên phải bảng) ngay sau khi xếp hàng vào lớp. + Điều khiển các bạn xếp hàng vào lớp, xếp hàng chào cờ đầu tuần, xếp hàng tập thể dục. + Đề nghị giáo viên tuyên dương, phê bình cá nhân hoặc tập thể. Nhiệm vụ của lớp phó học tập: + Tổ chức lớp truy bài 15 phút đầu giờ; giúp đỡ các bạn học yếu học bài, làm bài. + Theo dõi việc học tập của lớp trong các tiết chuyên. + Làm mọi việc của lớp trưởng khi lớp trưởng vắng mặt hoặc nghỉ học. Nhiệm vụ của lớp phó văn thể: + Tổ chức lớp hát múa 15 phút đầu giờ. + Tổ chức và tham gia các hoat động Văn - Thể - Mĩ của lớp do nhà trường tổ chức. + Tham gia các buổi tập huấn múa hát tập thể của liên đội về tập huấn lại cho lớp. Nhiệm vụ của lớp phó lao động: + Phân công, theo dõi và kiểm tra các tổ trực nhật và chịu trách nhiệm tắt đèn, quạt khi ra về. + Phân công các bạn tưới cây trong lớp, chăm sóc bồn hoa và cây trồng của lớp. + Theo dõi, kiểm tra các bạn khi tham gia các buổi lao động do trường, lớp tổ chức. + Phối hợp với lớp trưởng, lớp phó học tập giữ trật tự lớp. Nhiệm vụ của mỗi em, tôi ghi rõ ràng trong một cuốn sổ, sau đó phát cho các em. Tôi hướng dẫn từng em cách ghi chép trong sổ một cách khoa học, cụ thể, rõ ràng. Mỗi em sẽ làm đúng các nhiệm vụ của mình. Ngoài ra lớp trưởng và 2 lớp phó phải đoàn kết và hợp tác chặt chẽ với nhau trong công việc chung. Sau một thời gian giáo viên nắm bắt được năng lực của mỗi em từ đó có thể điều chỉnh đội ngũ ban cán sự lớp năng lực hơn (Năng lực ở đây là cả về mặt học tập và năng lực quản lý‎). - Để xây dựng chỗ ngồi phù hợp, sau một thời gian theo dõi tôi sắp xếp lại chỗ ngồi sao cho chỗ nào cũng có bạn học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu, xếp chỗ ngồi xen kẽ giữa các bạn dân tộc thiểu số với các bạn khác trong lớp. Trong mỗi bàn cần sắp xếp em học giỏi cạnh em học yếu, em ngoan ngồi cạnh em chưa ngoan, biết giúp đỡ nhau, phát huy được vai trò tự quản của học sinh. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Trường THCS Phan Đình Phùng tiếp tục thực hiện nghiêm túc phong trào thi đua làm theo Bác Hồ dạy: "Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua học tốt dạy tốt" Phát huy tính gương mẫu, tinh thần tự học, sáng tạo của cán bộ, giáo viên, nhân viên, đảm bảo kỉ cương trong nhà trường, khơi dạy và phát huy tinh thần trách nhiện, tình thương của thầy cô giáo đối với học sinh. Trong phạm vi nghiên cứu của mình tôi đưa ra một số giải pháp trong công tác chủ nhiệm lớp 9 có ý thức học tập tốt hơn. Tôi đã áp dụng những giải pháp sau đây Xây dựng được một tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết Đây là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm tạo ra một không khí học tập, vui chơi lành mạnh, giúp các em mạnh dạn không tự ti, giáo viên chủ nhiệm tạo không khí lớp học đầm ấm, nhẹ nhàng để tất cả học sinh không phải " sợ" đến trường mà các em luôn cảm nhận được: " Mỗi ngày đến trường là một ngày vui". Có như vậy mới thu hút được sự tham gia tích cực của tất cả các em học sinh. Khi các em tham gia các hoạt động tập thể sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm nắm bắt được hoàn cảnh của các em, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của các em để đưa ra những biện pháp giúp đỡ. Giáo viên chủ nhiệm phải làm sao để các em coi lớp học như một gia đình, thầy cô như là cha mẹ, các bạn trong lớp như anh em một nhà. Bất cứ một ai khi đã chọn ngành nghề cho mình thì đều xác định cái đích mình cần đạt đến. Cái đích đó tưởng như rất gần, rất dễ thực hiện, nhưng trong thực tiễn không phải như vậy, mà nhiều khi để đạt được phải đổ nhiều mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả tính mạng để đạt được nó. Học sinh lớp 9 ở lứa từ 14 đến 15 tuổi, các em rất nghịch, hiếu động, chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và điều gì là sai, hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quanh mình. Chính vì thế, nếu môi trường tác động tốt thì các em sẽ có những hành vi và đạo đức tốt, còn ngược lại thì sẽ rất tồi tệ, có thể các em sẽ hư hỏng, dối trá, mất tư cách, đạo đức kém.Tuy nhiên ở lứa tuổi này, các em cũng rất thích được tán dương, khen ngợi. Vì vậy chúng ta cần những giải pháp thích hợp để giáo dục và định hướng đúng đắn cho các em. Có như vậy, chúng ta mới giáo dục học sinh ở bậc trung học cơ sở phát triển một cách đúng nhất về nhân cách cũng như nhận thức của lứa tuổi mình, đặc biệt là các học sinh dạng cá biệt, giáo viên cần có cần có những biện pháp riêng, phù hợp với hoàn cảnh của từng em, mà từ đó mới hướng các em đi vào nề nếp. Muốn làm điều đó giáo viên cần phải có những hiểu biết nhất định về từng hoàn cảnh, từng nguyên nhân tạo nên những học sinh cá biệt đó và từ đó xây dựng các biện pháp riêng cụ thể áp dụng cho từng em học sinh cá biệt. 2, Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình và tâm sinh lí của từng học sinh: Đây là một yếu tố cũng không kém phần quan trọng. Ngay sau khi được phân công làm công tác chủ nhiệm lớp việc đầu tiên là tôi xem hồ sơ lí lịch học sinh. Sau đó tranh thủ thời gian đi thăm các gia đình học sinh có hoàn cảnh đặc biệt như: học sinh mồ côi, học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, những học sinh nhà ở xa trường. Khi đến thăm gia đình học sinh sẽ giúp chúng ta nắm bắt được hoàn cảnh để chúng ta có biện pháp giúp đỡ. Những năm trước tỷ lệ học sinh bỏ học ở trường tôi khá cao, đây là một vấn đề hết sức nan giải là việc làm khó nhưng không phải là chúng ta không làm được. Trước hết giáo viên phải tìm hiểu nguyên nhân học sinh bỏ học, sau đó cùng với các học sinh trong lớp đến nhà vận động. Nếu nguyên nhân do bố mẹ bắt bỏ học thì phải giải thích cho cho phụ huynh hiểu trẻ em có quyền được đến trường, được ăn, được học, được vui chơi ,như thế là vi phạm pháp luật, đồng thời huy động các đoàn thể tại địa phương cùng vào cuộc. Nếu vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thì có thể vận động giúp đỡ như tặng xe đạp, áo quần, sách vở Trường hợp học sinh không muốn học nữa thì phải làm công tác tư tưởng để em đó nhận thức ra tầm quan trọng của việc học. Mặt khác một số học sinh do nhà xa trường nên không có xe đạp để đi học. Do không nhận thức đầy đủ về việc học của con em nên gia đình thiếu sự quan tâm đối với học sinh. Về nhà phụ huynh chưa nhắc nhở các em học bài, không định hướng được cho các em, nhiều lúc các em có suy nghĩ tiêu cực là không biết học để làm gì. Có nhiều trường hợp khi giáo viên đến vận động thì không nhận được sự hợp tác của phụ huynh, bỏ mặc cho các em thích đi học thì đi, không thích đi học thì thôi. Giáo viên phải tạo được mối liên hệ mật thiết với gia đình học sinh. Đây là yếu tố hết sức quan trọng, giáo viên chủ nhiệm nên dành nhiều thời gian đến thăm gia đình học sinh để cùng với phụ huynh quan tâm đến con em mình hơn. Đặc biệt tại các buổi gặp gỡ này giáo viên cũng cần trao đổi với phụ huynh định hướng nghề nghiệp cho con em đồng bào dân tộc, tạo động lực , sống có mục tiêu để phấn đấu trong học tập hướng tới tương lai. Cho nên, giáo viên chủ nhiệm cần lưu ý một số học sinh cá biệt khiến cho chính bản thân của học sinh cảm thấy không hứng thú tập trung học tập, vì thế sự động viên của giáo viên chủ nhiệm có vai trò rất quan trọng. Giáo viên chủ nhiệm phối kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường, các giáo viên bộ môn để giáo dục học sinh không đi học chuyên cần và có ý định bỏ học, giáo viên chủ nhiệm cần thường xuyên báo cáo, trao đổi để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình công tác với ban giám hiệu nhà trường để đề ra các biện pháp giáo dục học sinh cá biệt lớp mình. Khi giáo viên chủ nhiệm vào các gia đình các em có ý định bỏ học, đã được ban giám hiệu nhà trường quan tâm 3. Giáo viên chủ nhiện cần tổ chức, khuyến khích học sinh mạnh dạn tham gia các phong trào, hoạt động tập thể. Ví dụ: Năm học này 2024-2024 có học sinh Tuấn, Tới, Khánh, rất hiếu động, nghịch ngợm, hay bỏ tiết ra ngoài,nghỉ học không lý do, trong giờ học thì nói chuyện riệng hoặc ngủ trong lớp,vi phậm nội quỵ đi xe máy, đánh nhau, thường dùng tay đập vào bàn trong giờ học, tóc để chỏm thỉnh thoảng doạ cờ đỏ khi bị ghi tên vì phạm lỗi, khi bị các thầy cô nhắc nhở thì thường tỏ ra chống đối, tỏ thái độ bất cần. Qua tìm hiểu tôi đã dùng nhiều biện pháp khuyên bảo răn đe. Thấy được sự quan tâm của giáo viên chủ nhiệm em đã có tiến bộ rõ rệt. Trong đợt thi đua hội khỏe phù đổng cấp trường, có môn đẩy gậy em Tuấn cũng tham gia. Hay như học sinhTới, Khánh nghỉ học vì ham chơi không thích đi học, lúc này tôi cần tăng cường các hoạt động tập thể để thu hút học sinh mặt khác kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, nhà trường và chính quyền địa phương để đưa ra những biện pháp kịp thời. Giáo viên chủ nhiệm phải gần gũi, quan tâm và sẵn sàng chia sẻ và gương mẫu trước học sinh. Giáo viên nên dành thời gian trao đổi với từng học sinh một hoặc từng nhóm học sinh để nắm bắt, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em. Hàng tuần vào các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tiết sinh hoạt lớp cuối tuần hoặc thông qua các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên chủ nhiệm nên dành chút thời gian thăm hỏi các em, đặc biệt là các em có biểu hiện e ngại, rụt rè giúp các em hòa đồng cùng bạn bè và cảm thấy mình không bị xa lánh. Hoặc thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể để các em được tham gia. 4. Giáo dục đạo đức cho học sinh ( đặc biệt học sinh cá biệt ) Căn cứ vào những thực trạng đã điều tra, cả những nguyên nhân dẫn đến thực trạng ấy. Tôi nhận thấy rằng, bởi lẽ các em trở thành học sinh cá biệt như vậy là do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến những nguyên chính là do : hoàn cảnh gia đình, sự thờ ơ của xã hội và gia đình trong việc giáo dục và dạy dỗ các em. Từ đó tôi có cơ sở để đề xuất các giải pháp như sau: *Về phía giáo viên : + Trước hết phải có cái "Tâm". Xuất phát từ chữ tâm ấy sẽ dễ dàng tiếp cận được các em học sinh, sự bao dung và sự chịu khó sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng thuyết phục giáo dục được các học sinh cá biệt. Cũng từ chữ tâm ấy, sẽ đẩy trách nhiệm, nghĩa vụ của giáo viên chủ nhiệm lên tầm cao hơn, từ đó trăn trở, suy nghĩ đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng. + Giáo viên phải tôn trọng học sinh dạng cá biệt này, dù các hành vi của chúng có thể gây xúc phạm đến danh dự của mình. Đồng thời phải có lòng tin với các em, tin tưởng các em để giao một số công việc phù hợp của lớp cho các em phụ trách. + Tuyệt đối, giáo viên không được xúc phạm danh dự đến các em học sinh trước tập thể lớp. + Giáo viên phải chịu khó lắng nghe tâm sự của các em, thường xuyên quan tâm và hỏi thăm, chăm sóc các em trong các điều kiện có thể. Từ đó mới tìm hiểu được nguyên nhân chính dẫn đến sự cá biệt của các em mà tìm giải pháp cho phù hợp. an ủi và động viên kịp thời các em khi phát hiện những bi kịch, chuyện buồn mà gia đình cũng như xã hội mang lại. + Giáo viên phải giữ được chữ tín đối với học sinh cả chuyên môn lẫn nhân cách sống. Đã hứa làm việc gì thì phải làm đến nơi đến chốn. Với những vấn đề trên, nếu giáo viên áp dụng được sẽ rất dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu mọi vấn đề phát sinh khi cần thiết. Thực tế trong những năm qua, với những vấn đề ấy, bản thân tôi đã được các em học sinh cá biệt phải tôn trọng. Ban đầu các học sinh cá biệt sống rất tách rời tập thể, thấy cô giáo thì ghét cay, ghét đắng, xong dần dần, tôi đã giúp cho các em hiểu được vấn đề và hiện nay đa số các em sống rất gần gũi với lớp. Đặc biệt bất kỳ chuyện gì xảy ra, dù lớn hay nhỏ các em này cũng đều tâm sự và chia sẻ với tôi từ niềm vui đến nỗi buồn. Chính đều đó dần dần, tôi đã giúp các em tránh được tự ti và mặc cảm ban đầu. *Về phía học sinh : + Giáo viên chủ nhiệm phải nắm được đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình học sinh cá biệt. Để từ đó cảm thông, tránh sự xúc phạm vô tình đến các em và đồng thời tạo nhiều điều kiện hơn để các em phát huy học tập và rèn luyện. + Giáo viên phải tìm hiểu, khai thác những điểm tốt và điểm yếu cơ bản nhất của học sinh để tác động làm thay đổi tính cách của học sinh cá biệt. + Giáo viên phải hiểu những suy nghĩ và những điều học sinh muốn. Có như vậy mới giúp các em tháo gỡ được những điểm yếu của mình để đạt được điều mình mong muốn chính đáng. *Về phía gia đình: + Giữa nhà trường và gia đình phải có sự kết hợp chặc chẽ, sự kết hợp giáo dục này phải diễn ra thật tế nhị và thường xuyên. Tránh những hành động nóng nảy của gia đình đối với học sinh như : đánh con khi nghe cô giáo đến thưa chuyện . + Phải thuyết phục được gia đình tạo mọi điều kiện tốt nhất để con, em mình học tập, đồng thời nhắc nhở phụ huynh phải thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình. Gia đình phải xem việc giáo dục con em không phải là chỉ riêng nhà trường mà cần phải có một phần trách nhiệm rất lớn từ gia đình. *Các giải pháp chủ yếu: - Tìm hiểu được căn nguyên của từng học sinh cá biệt : Sau khi đã xác định được các đối tượng học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp cần tổ chức theo dõi và đánh giá một cách khách quan, trung thực, đúng bản chất của vấn đề. Liệt kê ra các nguyên nhân, các lý do mà các em thường vi phạm và mắc phải; liệt kê số lần các em vi phạm, sau mỗi lần đó đã có ai nhắc nhở, giáo dục chưa? Đã cho các em suy ngẫm về lỗi của mình và đã hứa khắc phục hay chưa ?. Cần phải ghi chép rõ ràng để làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục. Trở lại với tình hình học sinh dạng cá biệt của lớp tôi đang chủ nhiệm, nổi lên có 2 học sinh rất cá biệt. 2 em này vi phạm nhiều lần, nhắc nhở nhiều lần mà các em vẫn cứ tái phạm. Qua tìm hiểu từ bạn bè và đặc biệt tôi đến từng nhà của từng học sinh tìm hiểu và trao đổi trực tiếp với phụ huynh của các em học sinh này. Xây dựng biện pháp giáo dục cho từng đối tượng Sau khi tìm hiểu nguyên nhân của từng đối tượng học sinh cá biệt, tôi đã đưa ra các phương án cụ thể cho từng em. Đặc biệt là *Các học sinh cá biệt về đạo đức : Đây là các em thường có học lực yếu, đi đôi với hành vi không tốt, thường ảnh hưởng đến sự học tập của lớp. Biện pháp đưa ra : + Gặp riêng từng em, hỏi thăm việc học tập và gia đình của các em. Sau đó phân tích những hành vi mà các em đã gây ra đúng sai như thế nào? Tìm hiểu lý do vì sao các em đó lại có hành vi ấy? + Gặp gia đình, trao đổi và thống nhất các biện pháp giáo dục như : Hạn chế cho các em tham gia vào các nhóm thanh niên hư hỏng ở địa phương cũng như không cho tham gia vào các tệ nạn như : đánh bài, uống rượu, theo bạn bè xấu bỏ lớp, chơi game, đánh nhau, . Thiết lập sổ theo dõi giữa gia đình và lớp. Ngày nào giáo viên cũng đánh giá nhận xét việc học tập cũng như hành động của các em vào sổ gửi về cho bố mẹ. Và đồng thời cũng lấy ý kiến từ gia đình để giáo viên có biện pháp giáo dục khác, từ đó gia đình luôn nắm bắt được tình hình học tập của con em mình, cùng với nhà trường kèm cặp học sinh tốt hơn. + Giao cho các em một số nhiệm vụ ở lớp. Trong các giờ sinh hoạt lớp giao cho hai em nhận xét tình hình lớp trong tuần, có bạn nào vi phạm khuyết điểm hay không . Giáo viên nhận xét lại và tìm hiểu thêm các chi tiết để nhận định, biểu dương. Từ những nhiệm vụ được giao đó, tạo cho các em có ý thức hơn trong học tập, tư cách đạo đức của mình với tập thể , dần dần các em sẽ nhận ra những sai phạm của mình với bàn bè xung quanh để mà sửa đổi thành những người tốt với bản thân và với tập thể lớp. + Một biện pháp cũng không kém phần quan trọng đó là việc biểu dương, khen thưởng, kịp thời. Từ những nhiệm vụ được giao, giáo viên phải biết tán dương, khen thưởng, động viên các em khi thực hiện tốt nhiệm vụ. Từ đó giúp cho các em hiểu được mình vẫn còn có giá trị trong lớp, có khả năng thực hiện tốt các việc khác. Bên cạnh đó cũng nghiêm khắc kiểm điểm, thẳng thắn phê bình các em học sinh vẫn còn vi phạm các hành vi đạo đức. Buộc các em phải ghi ra những lời hứa khắc phục và thời gian khắc phục. + Một số em có tính nóng nảy, hay gây sự, nếu giáo dục nhiều lần không thay đổi, gia đình buông xuôi, thì nên liên hệ với Đoàn thanh niên thôn, công an xã . Để kết hợp giáo dục. Một học sinh có bản chất tốt nhưng do đua đòi theo bạn mà việc học sa sút giáo viên chủ nhiệm nên báo với gia đình tìm biện pháp tốt nhất để khuyên răn dạy bảo hướng các em nhận ra các điều sai và khắc phục sữa chữa. Năm học 2024-2024, ở lớp 9A7 lớp tôi chủ nhiệm có em Lê Minh Tuấn thường xuyên cúp tiết bỏ giờ đi chơi game, thường xuyên xin tiền và lừa dối gia đình là đ

Đề Tài Vận Dụng Một Số Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Ngữ Văn

Với định hướng ” Đổi mới phương pháp dạy học” phải là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, từng môn học;

Bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;

Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập cho học sinh;.

Thì việc vận dụng đổi mới phương pháp vô cùng cần thiết.

Để làm dược yêu cầu trên, từ khi cải cách giáo dục, thay sách giáo khoa, . chúng ta đã đổi mới nội dung giáo dục THCS: Giảm quá tải, tăng tính thực tiễn và tính thực hành, đảm bảo tính vừa sức, tính khả thi,.

Chuyên đề: Vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực trong môn Ngữ văn Tổ Khoa học xã hội Trường THCS Kỳ Sơn Người thực hiện: Lê Thị Thu Hà I. Đặt vấn đề Dạy học là một môn nghệ thuật. Nghệ thuật ấy không phải ai cũng thể nghiệm giống nhau. Với định hướng " Đổi mới phương pháp dạy học" phải là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, từng môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập cho học sinh;... Thì việc vận dụng đổi mới phương pháp vô cùng cần thiết. Để làm dược yêu cầu trên, từ khi cải cách giáo dục, thay sách giáo khoa, ... chúng ta đã đổi mới nội dung giáo dục THCS: Giảm quá tải, tăng tính thực tiễn và tính thực hành, đảm bảo tính vừa sức, tính khả thi,... Nhìn chung, các giờ học giáo viên đã chuyển tải kiến thức, học sinh tiếp nhận bài học khá sinh động. Năm học 2010 - 2011, Bộ GD & ĐT đã triển khai và ban hành hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức- kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông các môn học và đưa ra một số kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng trong dạy - học Ngữ văn ở trường THCS. Từ thực tế trên, năm học 2010 -2011, tổ KHXH trường THCS Kỳ Sơn thực hiện chuyên đề " Vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực" trong giảng dạy ngữ văn. II. Nội dung: Phần một: Cấu trúc phân môn. Bộ môn ngữ văn bao gồm 3 phân môn. Mỗi phân môn có đặc trưng riêng. Vì vậy khi giảng dạy, giáo viên phải bám sát đặc trưng để có phương pháp phù hợp. Với phân môn Văn: Nhằm hướng học sinh, giúp học sinh tham gia khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm, để học sinh thực sự tự phát triển. Công việc của giáo viên không chỉ tập trung vào trang văn, áng văn mà cần có công đoạn sáng tạo. Nghĩa là, giáo viên phải hướng dẫn, tổ chức cho học sinh thực sự hoạt động ở trên lớp để khám phá tác phẩm, từ đó phát hiện và phát triển con người mình.( Thày phải thiết kế công việc làm của học sinh để từ hình tượng tác giả và tác phẩm, tạo dựng đựơc một hình ảnh của bạn đọc trong từng cá thể học sinh.) Với phân môn Tập làm văn: Mỗi chương đảm bảo cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho 1 kiểu làm bài. Mỗi kiểu bài bao giờ cũng bắt đầu bằng một tiết khái quát tìm hiểu chung về đặc điểm kiểu bài và phương pháp làm bài kèm theo một số tiết luyện tập thực hành. Giúp học sinh làm được một văn bản, các kĩ năng : Tìm hiểu- phân tích đề; rèn luện kĩ năng dựng đoạn, liên kết đoạn, viết bài hoàn chỉnh,.. đã đặt ra cho giáo viên những yêu cầu cụ thể và phù hợp với các đối tượng học sinh trong cách ra đề, hướng dẫn. Với môn Tiếng Việt: Nhìn chung theo hướng: Giáo viên truyền thụ cho học sinh những kiến thức trong SGK theo phương pháp: Diễn giảng, hỏi đáp, nêu vấn đề, quy nạp, suy diễn, thực hành,... Các thao tác này đôi lúc còn lặp đi lặp lại, chưa gây hứng thú trong việc lĩnh hội kiến thức, có lúc thày trình bày lý thuyêt quá dài, thời gian luyện tập của học sinh quá ít, không phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, kém sinh động,... Phần hai: Giới thiệu về phương pháp dạy học. Căn cứ tài liệu tập huấn giáo viên: Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục PT môn ngữ văn cấp THCS: Giới thiệu về phương pháp dạy học: 1. Quan điểm dạy học. 2. Phương pháp dạy học. 3. Kĩ thuật dạy học. 4. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học. 5. Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học. Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường PT là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo " Phương pháp dạy học tích cực." Với các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Làm cho "Học" là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con người mới tự tin, năng động sáng tạo trong cuộc sống. Phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt động, thụ động. Kĩ thuật dạy học tích cực là hạt nhân của phương pháp dạy học tích cực, hướng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nghĩa là hướng vaò phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào việc phát huy tính tích cực của người dạy. 6. Đặc trưng cơ bản của " Phương pháp dạy học tích cực". a, Dạy học tích cực phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện hoạt động học tập của học sinh. b, Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp học tập và phát huy năng lực tự học của học sinh. c, Dạy học phân hoá kết hợp với hợp tác. 7. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà phải vận dụng mộy cách hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phương pháp hiện đại cùng với các phương pháp dạy học tích cực đã được sử dụng tù những năm học trước đây đó là: 1, Phương pháp vấn đáp. 2, Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề. 3, Phương pháp đóng vai. 4, Phương pháp thuyết trình ( Giảng bình, thuyết giảng). 5, Phương pháp tổ chức học sinh hoạt động tiếp nhận các tác phẩm trong gipờ đọc văn ( Phát huy vai trò bạn đọc sáng tạo của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương). Phần ba: Các kĩ thuật dạy học tích cực. Năm học 2010- 2011, tổ KHXH sẽ thực hiện một số kĩ thuật dạy học tích cực. 1. Kĩ thuật động não. Là sự vận dụng trí tuệ (Động não) tập thể để giả quyết một vấn đề phức tạp. Động não là kĩ thuật trong dạy học nhằm giúp HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. - GV nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm, khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt. - Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưc lên bảng hoặc giấy khổ to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp. - Phân loại ý kiến. 2. Học theo góc. Là phương pháp tổ chức hoạt động học tập theo đó HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học đảm bảo cho HS học sâu và học thoải mái. Các bước dạy học theo góc như sau: - Bước 1: Chuẩn bị: + Lựa chọn nội dung bài học phù hợp. + Xác định nhiệm vụ cụ thêt cho từng góc. + Thiết kế các hoạt động để thực hịên nhiệm vụ ở từng góc bao gồm phương tiện/ tài liệu ( tư liệu nguồn, văn bản hướng dẫn làm việc theo góc, bản hướng dẫn theo mức độ hỗ trợ, bản hướng dẫn tự đánh giá,...) - Bước 2: Tổ chức hoạt động học tập theo góc: + Giới thiệu bài học và các góc học tập. + HS được lựa chọn góc theo sở thích, sau đó học luân phiên tại các góc theo thời gian quy định (VD 10-15' mỗi góc) để đảm bảo học sâu. + Tổ chức trao đổi/ chia sẻ (Thực hiện linh hoạt). 3. Kĩ thuật các mảnh ghép. Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vị phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực của HS : nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2). - Vòng 1: Hoạt động theo nhóm, mỗi nhóm đựoc giao 1 nhiệm vụ VD: Nhóm 1: Nhiệm vụ A; Nhóm 2: Nhiệm vụ B; Nhóm 3: Nhiệm vụ C,... - Vòng 2: Hình thành nhóm mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2, 1 người từ nhóm 3,...) 4. Kĩ thuật "Khăn phủ bàn". Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm cuả cá nhân HS, phát triển mô hình hợp tác giữa các HS. - Thực hiện kĩ thuật " Khăn phủ bàn" qua 2 giai đoạn: VD: Vận dụng kĩ thuật này vào việc hướng dẫn HS khám phá về ý nghĩa sâu sắc ở khổ thơ cuối bài Sang thu. 5. Sơ đồ KWL Dựa trên sơ đồ KWL, người học tự đánh giá được sự tiến bộ của mình trong việc học, đồng thời Gv biết được kết quả học tập của người học, từ đó điều chỉnh việc dạy học cho hiệu quả. 6. Học theo dự án. Học theo dự án ( Project Work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống. Các bước học theo dự án: - Bước 1: Lập kế hoạch. - Bước 2: Thực hiện dự án. - Bước 3: Tổng hợp kết quả. Bao gồm các công việc: Xây dựng sản phẩm - Trình bày sản phẩm - Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện dự án. Phần bốn: áp dụng cụ thể vào bài dạy. Ví dụ 1: Dạy bài "Những câu hát châm biếm"( Tiết 14) Đây là bài ca giúp HS nắm được ứng xử của các tác giả dân gian trước những thói hư tật xấu, những hủ tục lạc hậu trong xã hội. * Vấn đề được tìm hiểu đưa ra trước tập thể lớp theo câu hỏi: ? Trong bài ca dao thứ nhất, chân dung "chú tôi" được giới thiệu qua những chi tiết nào? HS sẽ đưa ra nhiều tín hiệu. Trong đó có thông tin được thể hiện qua từ "hay", " ước" "hay"+ tửu, tăm + nước chè đặc + nằm ngủ trưa " ước"+ ngày mưa + đêm thừa trống canh * GV tập hợp ý kiến và tiếp tục phát vấn: ? Em hiểu như thế nào về từ " hay"? ? Nghĩa của từ " hay" trong từ điển được hiểu là gì?( giỏi giang) ? Theo em, từ " hay" ở bài ca này có được hiểu là " giỏi giang" không? Vì sao? Ví dụ 2: Dạy bài " Luyện tập cách làm văn biểu cảm"( Tiết 28) Với mục tiêu: Giúp HS khắc sâu kiến thức đặc điểm thể loại biểu cảm, vận dụng các thao tác làm văn biểu cảm và thể hiện tình cảm, cảm xúc. GV nên sử dụng "kỹ thuật mảnh ghép" và kỹ thuật " khăn phủ bàn" để hướng dẫn HS. * Sử dụng " Kỹ thuật mảnh ghép": Sau khi cho HS tìm hiểu đề, tìm ý, GV phân nhóm học sinh thực hiện bước lập dàn ý + Vòng 1: Mỗi dãy bàn hàng dọc là 1 nhóm Yêu cầu mỗi nhóm làm một nhiệm vụ: - Nhóm 1: Lập dàn ý phần mở bài - Nhóm 2: Lập dàn ý phần thân bài - Nhóm 3: Lập dàn ý phần kết bài Hết thời gian quy định, HS chuyển nhóm. + Vòng 2: Các nhóm mới được hình thành bằng cách sát nhập thành viên của ba nhóm theo dãy bàn hàng ngang. Cứ 2 bàn là một nhóm. Yêu cầu các nhóm trình bày dàn ý đã làm. Như vậy, lúc này mỗi nhóm đã có đủ dàn ý 3 phần. * Sử dụng kỹ thuật " khăn phủ bàn" GV yêu cầu HS viết một số đoạn văn. + Giai đoạn 1: GV chia nhóm theo dãy bàn hàng ngang. Các dãy tự viết từng phần theo phân công: Nhóm 1: Phần mở bài Nhóm 2: Phần thân bài Nhóm 3: Phần kết bài + Giai đoạn 2: Các dãy bàn hàng dọc cùng đưa ra nội dung Các dãy bàn hàng ngang cùng đưa ra nội dung Ví dụ 3: Dạy bài " Từ đồng nghĩa"( Tiết 35) GV dùng các kỹ thuật dạy học tích cực hướng dẫn HS làm bài tập củng cố kiến thức từng phần bài học * Phần I: Thế nào là từ đồng nghĩa Sau khi hình thành khái niệm về từ đồng nghĩa, GV dùng " Kỹ thuật động não" hướng dẫn HS làm bài tập 1+ 2( SGK 115) để củng cố kiến thức phần I. * Phần II: Phân loại từ đồng nghĩa GV dùng " kỹ thuật mảnh ghép hướng dẫn HS làm bài tập 3+ 5( SGK 116) Bằng kỹ thuật này, HS nhanh chóng tiếp cận với nội dung bài học : Từ đồng nghĩa được phân làm 2 loại: Từ đồng nghĩa hoàn toàn( sắc thái nghĩa giống nhau, có thể thay thế cho nhau được) Từ đồng nghĩa không hoàn toàn( sắc thái nghĩa khác nhau, không thể thay thể cho nhau được) * Phần III: Cách sử dụng từ đồng nghĩa GV dùng " kỹ thuật khăn phủ bàn" để HS vận dụng làm bài tập 6( SGK 116) ý kiến cá nhân có thể chưa chính xác( Giai đoạn 1), ý kiến tập thể sẽ bổ trợ để các em nhận ra chỗ thiếu, chưa hoàn thiện trong bài tập của mình( Giai đoạn 2) III. Kết luận Với các hình thức vận dụng kỹ thuật dạy học phù hợp trong từng bài, từng phần, phần nào đã giúp HS nắm bắt kiến thức nhanh hơn. Trong quá trình thực hiện, ở kỹ thuật này hay kỹ thuật khác có thể có lúc dễ thực hiện, không tốn kém, sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy đông tối đa tríb tuệ của tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo diều kiện cho nhiều học sinh tham gia. Song, có lúc, kỹ thuạt này hay kỹ thuật khác có thể đi lạc đề, mất thời gian nhiều trong việc chọ các kiến thức thích hợp. Có thể có một số học sinh tích cực nhưng lại có học sinh thụ động. Như vậy, không phải giờ học nào cũng thực hiện được tất cả các kĩ thuật dạy học trên. Vì vậy, tuỳ từng tiết học, từng kiểu bài, giáo viên vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực cho phù hợp. . K ( Điều đã biết) Know W ( Điều muốn biết) What L ( Điều học được) Learn An-đéc- xen được mệnh danh là "người kể chuyện cổ tích" có nhiều tác phẩm nổi tiếng... Cô bé bán diêm có phải là chuyện cổ tích không? Vì sao? Cô bé bán diêm có tính chất của cổ tích: Là hiện thực trong mộng tưởng của những trẻ em nghèo, bất hạnh. Có thể trong 2 bài tập này, HS sẽ đưa ra các từ đồng nghĩa không thống nhất với nhau, GV căn cứ vào bài làm của các em để sửa cho đúng.

Đề Tài Giới Thiệu Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Sinh Học Trong Trường Thpt

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay,nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo tiếp thu được những tri thức khoa học kỹ thuật hiện đại của nhân loại, biết tìm ra các giải pháp hợp lí cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội.

Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế đang phát triển cùng với sự phát triển của xã hội thì khoa học công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự kiện, các tư tưởng các hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người. Chính vì vậy, đứng trước nhu cầu tất yếu của xã hội, ngành giáo dục phải đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là yêu cầu cấp bách của thời đại, là xu thế tất yếu khách quan.

A/ PHẦN MỞ ĐẦU : I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay,nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo tiếp thu được những tri thức khoa học kỹ thuật hiện đại của nhân loại, biết tìm ra các giải pháp hợp lí cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội. Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế đang phát triển cùng với sự phát triển của xã hội thì khoa học công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự kiện, các tư tưởng các hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người. Chính vì vậy, đứng trước nhu cầu tất yếu của xã hội, ngành giáo dục phải đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là yêu cầu cấp bách của thời đại, là xu thế tất yếu khách quan. Trong luật giáo dục của nước ta đã được thông qua tháng 12 năm 1996 mục II điều 4 đã nêu rõ : "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tính tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập, ý chí vươn lên". Nghị quyết TW2 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh : "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiên đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân nhất là thanh niên". Trước thực tế đó, Nghị quyết số 40/ 2000/ QH10, ngày 9 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định : "Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tòan diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới". Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta cũng đề ra nhiệm vụ là : "Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ trương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới.Bởi vậy, vấn đề đặt ra của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay là phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đề cao vai trò chủ thể hoạt động của học sinh trong học tập là yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp giáo dục hiện nay và hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Mỗi một bài giảng cũng như một đứa con tinh thần trong suy nghĩ của người dạy, là người thầy truyền đạt kiến thức cho học sinh ai cũng muốn chăm chút cho đứa con tinh thần ấy đẹp về cả nội dung, hình thức và đẹp cả ở cách thể hiện. Ngay bản thân tôi, mặc dầu là người chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghề nghiệp, nhưng mỗi một bài dạy đều để laị trong tôi nỗi ưu tư khó tả, đặc biệt là những bài dạy mà sau khi tôi giảng xong ánh mắt các em ngơ ngác và khuôn mặt tỏ vẻ không hài lòng vì không hiểu bài. Những lúc ấy, tôi thật buồn và cảm thấy bản thân mình đã chưa hoàn thành nhiệm vụ của một nhà giáo, chưa biết cách khơi gợi niềm đam mê yêu thích môn học ở học sinh, không khơi dậy được tư duy tích cực và sáng tạo ở học sinh. Chính vì điều đó đã khiến tôi phải suy nghĩ đi tìm con đường cho mỗi bài giảng , từ đó tôi quyết tâm nghiên cứu phương pháp dạy học vừa mới lạ vừa phát huy tính tích cực ở học sinh. Đồng thời tôi thấu hiểu rõ quan điểm của Đảng - Nhà nước về đổi mới giáo dục hiện nay,tôi nhận thấy bản thân cũng phải tự vận động, tự đổi mới tư duy trong dạy học và đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết. Vậy việc đổi mới phương pháp giảng dạy và đưa công nghệ thông tin trong giảng dạy ở các cấp bậc học, ở toàn thể các môn học, cốt lõi của việc đổi mới là " Lấy học sinh làm trung tâm và phát huy tính tích cực sáng tạo, tự học, tự nghiên cưú ở học sinh ". Nhưng trong thực tế vẫn còn một lượng không nhỏ học sinh vẫn học theo lối tư duy máy móc, thụ động tiếp thu kiến thức, học thuộc mà không hiểu, không biết cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mặt khác về phía giáo viên vẫn còn không ít thầy cô vẫn dạy theo phương pháp đọc chép hoặc chiếu chép, hoặc chỉ giảng giải cho học sinh mà chúng ta đã vô tình không biết rằng học sinh nghe nhưng không hiểu.Vì thế, tôi muốn viết đề tài này để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm cùng qúi thầy cô về việc đổi mới phương pháp dạy học và giúp những người đứng lớp tìm ra phương pháp dạy học tích cực phù hợp cho mỗi bài dạy, tôi rất mong được nhận sự đóng góp ý kiến cuả qúi thầy cô ! Tôi xin chân thành cảm ơn ! II/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU : Về phương diện lí thuyết tập trung nghiên cứu một số phương pháp dạy học tích cực chủ yếu như dạy học giải quyết vấn đề và một phương pháp tôi mạnh dạn đặt tên là dạy học dùng phương pháp sơ đồ hoá dựa trên cơ sở của các phương pháp như : dùng hình ảnh trực quan sinh động kết hợp với hỏi đáp, tự làm việc với sách giáo khoa tìm tòi nội dung kiến thức và sơ đồ hoá nội dung kiến thức bằng ngôn ngữ cụ thể của bài học, đồng thời nêu được đặc điểm, vai trò và những ứng dụng của các phương pháp này trong giảng dạy . Về phương diện thực nghiệm vận dụng trong giảng dạy môn sinh học bằng những phương pháp dạy tích cực trong trường học, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để phát huy những mặt tích cực của phương pháp và khắc phục mặt hạn chế của phương pháp. III/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI : Tìm ra những phương pháp dạy học tích cực phù hợp cho từng bài nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn sinh học. Vận dụng những phương pháp tích cực vào từng bài dạy cụ thể để phát huy tư duy độc lập giúp học sinh tự tìm ra kiến thức và phát triển khả năng sáng tạo của học sinh, đồng thời kích thích ở học sinh niềm đam mê yêu thích môn học. Rút ra những bài học kinh nghiệm để cùng toàn thể quí thầy cô trao đổi và hoàn thiện phương pháp dạy học ngày càng tiến bộ. Trong đề tài này, tôi chỉ đề cập tới nghiên cứu một số phương pháp dạy học tích cực đối với bộ môn sinh học ( chủ yếu chương trình chuẩn ) mà trên thực tế tôi đã ứng dụng giảng dạy ở trường. Tuy nhiên, do thời gian có hạn và đề tài cũng còn nhiều vấn đề quan tâm của tất cả quí thầy cô, tôi chỉ đề cập tới một số nội dung trong bài tiêu biểu cụ thể ở mỗi chương. Rất mong người dạy mỗi chúng ta gọt thêm cho nhọn, cho sắc để mỗi bài dạy của chúng ta chính là đứa con tinh thần rất đẹp. Mặt khác một phương pháp tôi nêu tên là dạy học dùng phương pháp sơ đồ hoá thì trong đề tài này tôi chỉ nêu ở phần thực nghiệm vì là phương pháp dựa trên cơ sở của một số phương pháp đã có. Chỉ khác ở cách thể hiện của giáo viên khi hướng dẫn giúp học sinh tự tìm ra kiến thức. IV/ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 1/ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết : Phương pháp lí thuyết thường dùng phổ biến cho nhiều nghiên cứu khoa học . 2/ Phương pháp điều tra : Điều tra cũng thường được sử dụng trong nhiều loại đề tài nghiên cứu của lí luận dạy học. Thực chất của phương pháp này là người thu thập số liệu đặt ra những câu hỏi cho đối tượng được điều tra trả lời nói hay viết. Nội dung người trả lời cần chân thật mà người điều tra thu được sau khi xử lí là kết quả điều tra. Đối tượng điều tra là học sinh. Để thu được sự trả lời trung thực, đúng đắn, của học sinh thì phải có kĩ thuật đặt câu hỏi. Phương pháp này thường dùng để tìm hiểu chất lượng dạy học một vấn đề nào đó trong chương trình, hoặc thăm dò ý kiến của học sinh về phương pháp dạy học mới có đem lại kết quả mong muốn hay không. Câu hỏi nêu ra có thể dưới dạng trắc nghiệm (test) hay theo dạng câu hỏi truyền thống, tuy nhiên mỗi dạng đều có những ưu nhược điểm. Ngày nay, thường sử dụng phối hợp cả hai dạng câu hỏi. 3/Phương pháp quan sát sư phạm : Quan sát sư phạm là một quá trình tri giác một hiện tượng, một quá trình sư phạm trong hay ngoài lớp học theo một kế hoạch cụ thể nhằm rút ra những kết luận cần thiết. Nhờ có quan sát sư phạm mà người nghiên cứu thu thập được nhiều sự kiện trong quá trình giảng dạy và giáo dục. Từ những sự kiện riêng lẻ, đơn nhất nhưng được lặp lại nhiều lần, người nghiên cứu có thể phát hiện ra cái chung, cái bản chất, nhờ đó mà tích luỹ được nhiều kinh nghiệm giảng dạy sinh học, tránh những sai lầm, nâng cao hiệu quả giảng dạy. Quan sát ... miễn sao sử dụng từ ngữ đúng là được chứ không có áp đặt có sẵn nội dung từng dòng từng chữ phải giống thầy. * / Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi học sinh phải đầu tư thời gian khá nhiều đồng thời không phải bất kỳ học sinh nào cũng làm được điều này vì muốn tự học thì khả năng tư duy của học sinh phải khá tốt, khả năng khai quát cao, nói chung là yêu cầu ở học sinh rất nhiều khả năng đặc biệt là sự tự giác trong học tập thì không phải học sinh nào cũng có. Đôi khi học sinh làm là do bắt buộc hoặc một số học sinh làm số còn lại mượn chép thì nó trở thành sự ì tư duy. Vì vậy yếu tố tự học và sự kiên trì là điều rất cần thiết để thực hiện phương pháp này tốt hơn. Ngoài ra về phía GV cũng phải đầu tư rất nhiều không chỉ thời gian mà còn khả năng khái quát của GV đòi hỏi chuyên môn sâu rộng và sự kiên trì bởi vậy cũng là trở ngại để thực hiện phương pháp này. Nói chung phương pháp nào cũng có ưu và nhược điểm của nó, nhưng viết đề tài này trên tinh thần học hỏi những kinh nghiệm giảng dạy tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp. C / PHẦN KẾT LUẬN I / KẾT LUẬN Qua đề tài trên chúng ta thấy đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết là mục tiêu hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Trên cơ sở những bài thực nghiệm dạy học giải quyết vấn đề và thực nghiệm dùng phương pháp sơ đồ hoá đều phản ánh được mặt tích cực của những phương pháp này. Giúp học sinh học hiểu sâu hơn, tự giác và tư duy độc lập sáng tạo hơn, đồng thời giúp các em luôn có hứng thú với môn học. Vấn đề khó khăn ở những phương pháp này là thời gian của cả GV và học sinh phải đầu tư rất nhiều trong khi đó các em học rất nhiều môn và các quý thầy cô thì không phải ai cũng thích dạy những phương pháp này. Ngoài ra, giáo viên phải đầu tư liên tục ở mỗi bài mới hình thành thói quen học tập độc lập nhưng không phải bất kỳ bài nào cũng dạy được bằng các phương pháp trên mà tuỳ bài, tuỳ năng lực cụ thể của học sinh, tuỳ điều kiện về thời gian của mỗi giáo viên, trở ngại nữa là sử dụng phương pháp này rất dễ bị cháy giáo án. Nói chung nếu có nhiều thời gian và điều kiện cho phép thì bản thân tôi sẽ đầu tư nghiên cứu không những phương pháp dạy học tích cực môn sinh học mà còn nghiên cứu tâm lý học sinh khi học môn học này để cân đối phương pháp dạy học phù hợp với tâm lý từng đối tượng người học. II / ĐỀ XUẤT Thông qua dạy học bằng phương pháp tích cực bản thân tôi nghĩ nên rèn luyện cho các em tư duy độc lập ngay từ bé khi còn ở nhà trẻ nhưng ở mức độ thấp hơn, còn ở học sinh tiểu học chúng ta cũng nên sử dụng phương pháp dạy theo hướng giải quyết vấn đề giúp các em có tư duy độc lập từ nhỏ. Đặc biệt chúng ta nên đẩy mạnh những phương pháp dạy học tích cực ở học sinh cấp II và cấp III, và sinh viên. Nhưng trên thực tế phạm vi trường THPT tôi rất mong được đề xuất những vấn đề sau : - Mỗi cá nhân trong trường học cần tích cực đổi mới phương pháp dạy học, bằng cách đầu tư sâu chuyên môn, nghiên cứu thật kỹ phương pháp dạy học của mỗi bài phù hợp trình độ nhận thức của học sinh. Mỗi thầy cô nên dạy một khối để có thời gian đầu tư phương pháp tốt hơn và rút kinh nghiệm cũng dễ dàng hơn. Nhưng trên thực tế thì mỗi GV cùng một năm dạy 3 khối vừa cực mà lại ít thời gian đi sâu kiến thức và tìm ra phương pháp tích cực phù hợp. Trên thực tế nhiều thầy cô dạy quá nhiều khối mà đây là ép phải như vậy. Trong tình hình hiện nay có nên hay không bởi vì SGK mới liền một lúc dạy cả khối 10 và 12 hoặc 11 và 12 thì đều là những kiến thức mới vấn đề mới mà có rất nhiều bài đề cập tới. Đồng thời SGK viết rất nhiều mà không rõ ý như sinh 12 cơ bản năm nay gây áp lực không nhỏ cho người trực tiếp dạy học cũng như là học sinh thì đương nhiên việc thay đổi một phương pháp dạy học mới ở mỗi GV là tất yếu để phù hợp với nhu cầu học cuả học sinh. - Mặt khác do kiểu thi trắc nghiệm thì mỗi GV nên dạy theo hình thức ngắn gọn dễ hiểu phù hợp với trắc nghiệm mà không nên áp đặt ngôn ngữ của mình bắt học sinh học dài hàng trang gây áp lực rất lớn đối với học sinh. Vì vậy, tôi thiết nghĩ cần sử dụng sơ đồ hoá kiến thức nhiều hơn giúp học sinh tóm gọn kiến thức và học dễ dàng hơn và cách này cần phổ biến hơn nữa vì trên thực tế có nhiều thầy cô đã sử dụng nhưng chưa dám mạnh dạn sử dụng đôi khi sợ học sinh học sơ đồ phát biểu thành nội dung không được. Nhưng chúng ta cần kiên trì rèn luyện cho học sinh dù với hình thức ghi như thế nào thì cốt lõi vẫn là các em phải biến kiến thức thành của mình dùng ngôn từ của mình miễn sao đảm bảo tính chính xác khoa học là đủ. - Ngoài ra khi dạy học giải quyết vấn đề giúp cho học sinh cũng như GV rất nhiều, khó khăn của phương pháp này là thời gian và điều kiện để GV thực hiện là rất khó có thể sử dụng phổ biến, mặt khác còn do không phải nội dung nào cũng dạy theo phương pháp này được. Vì vậy, tôi mạnh dạn đề nghị cần lập ra một tổ chức nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực tình nguyện bao gồm thầy chuyên viên sở và những thầy cô dạy giỏi có nhiều kinh nghiệm ở các trường có những phương pháp dạy hiệu quả soạn giảng tải mạng để tập hợp thành những cuốn giáo án chung là giáo án tham khảo cho nội bộ các GV của tỉnh áp dụng, mỗi năm mỗi chỉnh sửa cho phù hợp và thầy cô nào có giáo án hay mạnh dạn tải về sở cho thầy chuyên viên của sở chỉnh lí và phổ biến rộng rãi. Đồng thời có những khuyến khích cụ thể đối với những cá nhân thầy cô có bài soạn hay. Nếu ứng dụng được điều này tôi thiết nghĩ bộ môn sinh học sẽ giảm bớt rất nhiều áp lực cho người học cũng như người dạy. III / KIẾN NGHỊ ỨNG DỤNG - Phương pháp DHGQVĐ đã trở lên quen thuộc đối với một số thầy cô nhưng vẫn còn một bộ phận không nhỏ thầy cô vẫn dạy theo phương pháp đọc chép, và còn giảng giải nhiền hơn việc nêu ra câu hỏi khiến học sinh phải tư duy. Vì vậy chúng ta nên thay đổi phương pháp dạy học bằng cách ứng dụng DHGQVĐ thường xuyên hơn trong giảng dạy các môn học nói chung đặc biệt là môn sinh học nói riêng. Điều mà tôi rất boăn khoăn là khi xã hội từng bước phát triển và thế giới ngày một thay đổi rất khác vậy mà sức học của học sinh ngày càng đi xuống. Tôi nhận thấy học sinh không còn coi trọng việc học, mà đến trường mục đích chủ yếu là bạn bè vui là chính. Chắc chắn rằng rất nhiều quý thầy cô đau khổ, buồn rầu vì thế hệ trẻ ngày nay nhưng tôi nhận thấy rằng cái mặt mạnh của học sinh ngày nay là rất năng động, tự tin. Vậy tại sao chúng ta không kết hợp những mặt mạnh của học sinh đánh vào tâm lý của các em, giáo dục các em lý tưởng để giúp các em đi đúng hướng. Như vậy ngoài dạy chuyên môn thì GV cần dạy cả cách làm người cho học sinh mà phải cực kỳ khéo léo tế nhị lấy từ những tấm gương thực tế để chỉ dạy. Tại sao tôi lại đề nghị vấn đề này, thực tế là do cuộc sống hiện đại chúng ta quên đi nghĩa vụ rất quan trọng của người thầy là chỉ dạy kiến thức mà không dạy cách làm người cho học sinh thì sự thành công trong giảng dạy của chúng ta cũng chỉ là thành công ảo mà thôi. - Phương pháp tôi nêu là dạy học dùng phương pháp sơ đồ hoá có nên sử dụng hay không thì do cách dạy của mỗi thầy cô. Nhưng tôi thiết nghĩ nếu cách thức nào giúp học sinh tích cực tư duy thì chúng ta ứng dụng càng nhiều càng tốt. Chính vì chúng ta không để học sinh tự nghiên cứu bài trước chỉ dặn các em đọc trước thì chẳng em nào chịu đọc mà GV chúng ta khéo léo giao việc cho các em thực hiện ở nhà để các em tự nghiên cứu tài liệu thì mới giúp chúng ta hoàn thành bài trên lớp đồng thời chính bản thân các em cũng học tốt hơn. Nhiều thầy cô cho rằng cách này vượt quá tầm tri thức của học sinh chỉ những sinh viên mới tự học như vậy, đây là quan điểm theo tôi thấy nó chưa thoả đáng vì hầu hết những học sinh chưa học theo kiểu như vậy học lên cao càng dở, đặc biệt là ở sinh viên. Những sinh viên tự nghiên cứu tài liệu tự tìm tòi kiến thức chính là những sinh viên giỏi, còn những sinh viên không biết tự học thì học rất khó khăn. Vậy thì tại sao chúng ta không bắt tay vào khai thác tính tự học tự nghiên cứu ở học sinh ngay từ bây giờ ở các trường phổ thông ? Ứng dụng phương pháp này cũng là cơ sở giúp các em phát triển tư duy cao đồng thời chuẩn bị một tâm lý tốt khi là những sinh viên. Do thời gian có hạn trong đề tài này tôi chỉ nêu một vài cách thức cũng như quan điểm về phương pháp dạy học cũng mong quý đồng nghiệp tham khảo đóng góp ý kiến để sự nghiệp giáo dục của nước ta nói chung và tỉnh nhà nói riêng luôn phát triển tích cực và đạt hiệu quả cao. D / TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 / Kỹ thuật dạy học sinh học - Tác giả Trần Bá Hoành. 2 / Lý luận dạy học sinh học - Đồng tác giả : Đinh Quang Báo _ nguyễn Đức Thành. 3 / Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm - Tác giả Nguyễn Kỳ. 4 / Dạy học giải quyết vấn đề - một đổi mới trong công tác GD - ĐT : Đồng tác giả Vũ Văn Tảo - Trần Văn Hà. 5 / Tổ chức dạy học nêu vấn đề ở nhà trường (tài liệu dịch) : Tác giả Macmutop.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Vấn Đề Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Ở Lớp 9 Trường Thcs

MộT Số VấN Đề ĐổI MớI PHƯƠNG PHáP DạY HọC MÔN Mĩ THUậT ở lớp 9 trường thcs I . Lý do chọn đề tài. N hư chúng ta biết, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tích cực hoá được đặt ra do yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhân lựccho đất nước trong giai đoạn những năm đầu thế kỉ 21. Cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học môn mĩ thuặt cũng như những môn học khác ở nhà trường phổ thông hiện nay là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh và hoạt đông dạy học của giáo viên - Mĩ thuật là một loại hình nghệ thuật, nếu dạy học là khó thì dạy nghệ thuật lại càng khó, Mĩ thuật lại càng mang tính nghệ thuật cao. Song khó không có nghĩa là không dạy được vì học Mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người thấy cái đẹp ở trong mình và xung quanh mình trở nên gần gủi và đáng yêu, đồng thời Mĩ thuật giúp mọi ngườitự tạo ra cái đẹp theo ý mình và thưởng ngoạn nó ngay trong sinh hoạt hằng ngày của mình, làm cho cuộc sống thêm hài hoà và hạnh phúc - Dạy học Mĩ thuật ở phổ thông là tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen với những giá trị thẩm mĩ, biết vận dụng kiến thức đã học phục vụ vào cuộc sống sinh hoạt hằng ngày - Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Mĩ thuật là một vấn đề đã được đề cập và bàn luận từ nhiều năm qua, các nhà biên soạn nghiên cứu đã không ngừng nghiên cứu biên soạn tiêp thu những thành tựu mớivà hiện đại để đưa nền giáo dục nước nhà ngày càng phát triển và hiện đại. ở đây bản thân tôi không có tham vọng đưa ra những vấn đề lớn lao hay điều chỉnh phương pháp dạy học ở môn Mĩ thuật mà bản thân đã thực hiện trong năm học này Việc dạy - học Mĩ thuật ở trường THCS hiện nay so với trước đã có những chuyển biến đáng kể. GV đã chú ý đến tính khoa học chính xác, tính thực tiển của kiến thức nhất là bảo đảm tính hệ thống và chương trình sách giáo khoa quy định, GV đã phấn đấu để có nhiều tiết dạy tốt tăng cường phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn Mĩ thuật và sử dụng phương tiện dạy-học hiện đại như đèn chiếu, máy chiếu đa năng, sử dụng chương trình bài giảng điện tử power point, violet.... để phát huy tính tich cực tư duy của học sinh II . Thực trạng và giải pháp 1 . thực trạng * Thuận lợi - Về giáo viên + Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã có nhiều cuộc vận động trong giáo dục, tổ chức nhiều cuộc thi GV dạy giỏi cấp trương, cấp cụm, cấp huyện GVđã được tham gia các lớp tập huấn, các đợt bồi dưỡng chuyên đề... + Là giáo viên trẻ, được đào tạo đúng chuyên ngành Mĩ thuật, lại rất yêu ngành, tâm huyết với nghề nên đã tìm tòi áp dụng nhiều phương pháp dạy học mới vào trong giảng dạy giúp cho bài dạy trở nên sinh động, lôi cuốn được học sinh hơn + Về phía nhà trường đã cố gắng tạo mọi điều kiện cơ sở vật chấtcho việc dạy học như máy chiếu, mạng internet,phần mềm Violet, đầu video, ... GV đã có bộ sách giáo khoa, sách tham khảo đồ dùng dạy học trực quan... - Về học sinh + Đa số HS đều có niềm yêu thích môn Mĩ thuật có ý thức trong các giờ học + Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, vở, dụng cụ học tập địa lý. + Với trình độ khoa học kĩ thuật phát triển như hiện nay thì ngoài các kiến thức học được ở trên lớp các em có thể biết được nhiều thông tin Mĩ thuật qua sách báo, tivi, qua mạng internet. + Học sinh Cảnh Dương với tác phong nhanh nhẹn, có truyền thống hiếu học các em có thể tiếp cận nhanh với các phương pháp dạy học mới, các phương tiện dạy học hiện đại của giáo viên, dễ dàng chiếm lĩnh tri thức mới. + Bên cạnh đó, những kiến thức Mĩ thuật thì rất gần gũi với đời sống hàng ngày của các em nên các em đã tiếp thu một cách nhanh và dễ dàng liên hệ với thực tế. *Khó khăn : -Về giáo viên: +Số lượng học sinh trong một lớp còn quá đông nên gây khó khăn cho giáo viên trong khi tiến hành dạy theo phương pháp mới nhất là hoạt động nhóm vì giáo viên khó tổ chức và khó quản lí. +Với lứa tuổi THCS, học sinh đang còn nhỏ nên các kiến thức về xã hội chưa nhiều vì thế đòi hỏi người giáo viên phải truyền thụ đầy đủ và chi tiết gây mất nhiều thời gian trong một tiết dạy. + Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học chưa thực sự đầy đủ phòng học chức năng chưa có, còn thiếu một số tranh ảnh,... gây khó khăn cho người dạy. -Về học sinh: + Bên cạnh các học sinh có ý thức thì thái độ học tập của một số học sinh chưa tốt, còn lơ là, ham chơi ảnh hưởng không nhỏ đến việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh ở trên lớp. + Một số em còn lười vẽ phác thảo dẫn đến vẽ dường nét, màu sắc còn yếu, chưa thực sự hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm Mĩ thuật, vẫn còn HS ít vẽ kí hoạ về người và phong cảnh + Nhiều học sinh còn mang nặng tâm lí xem Mĩ thuật là một môn học phụ. - Về cơ sở vật chất : +Hiện tại chưa có phòng học chuyên ngành (phòng chức năng) + Thiết bị dạy học chưa đầy đủ, bộ ĐDDH Mĩ thuật 9 không có, các khối lớp khác không đáp ứng đủ đồ dùng cho nội dung bài dạy Qua số liệu cho thấy khi khảo sát tình hình học sinh khối 9 học Mĩ thuật đầu năm học như sau Tổng số K9 131 HS Trung bình HS Khá HS Giỏi SL % SL % SL % 67 51 43 33 21 16 - Từ thực tế trên điều mà tôi quan tâm nhất là tìm ra phương pháp dạy- học và học Mĩ thuật như thế nào để dạy tốt môn Mĩ thuật . Muốn vậy, tôi phải có phương pháp tối ưu giúp cho HS nắm được bài học của mình, tạo cho các em sự thích thú say mê trong tiết học Mĩ thuật. Nhằm để học sinh có khả năng vẽ được tranh, GVphải biết khai thác, kích thích sự tìm tòi, khả năng tư duy sáng tạo của học sinh - Với những băn khoăn, trăn trở đó, trước tình hình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay tôi xin đưa ra một vài kinh nghiệm nho nhỏ của mình về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Mĩ thuật nhằm giúp cho học sinh yêu thích và học tốt hơn môn Mĩ thuật để đưa chất lượng bộ môn Mĩ thuật được nâng cao thông qua các giải pháp như sau: 2. Giải pháp Để thực hiện mục tiêu trên, tôi đã sử dụng một số phương pháp dạy học trong môn Mĩ thuật cụ thể như sau: 2.1. Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát là thông qua việc nhìn nhận, tìm hiểu đối tượng để phân tích so sánh về: cấu trúc, tỷ lệ , màu sắc hình ảnh...của mẫu. Giúp học sinh nhận biết và cảm thụ vẽ đẹp của đối tượng làm cơ sở tư liệu thực hiện bài tập Mĩ thuật. Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 7 và bài 8: Vẽ theo mẫu:Vẻ tượng chân dung (Lớp 9) Học sinh cảm nhận được vẽ đẹp của mẫu qua đặc điểm hình dạng cấu trúc và tương quan chung. Do vậy giáo viện cần sử dụng phương pháp quan sát để học sinh nhận ra: - Khối cơ bản của mỗi vật mẫu - Khung hình chung của nhóm mẫu - Khung hình riêng của vật mẫu - So sánh tìm tỷ lệ các bộ phận của mẫu - Phân biệt độ đậm nhạt của mẫu.... và tiến hành bài vẽ theo các bước: Sắp xếp bố cục trên trang giấy Vẽ phác khung hình chung trước Vẽ khung hình riêng sau Tìm tỷ lệ các bộ phận tương ứng Phát hình dáng mẫu bằng nét kỹ hà Thể hiện đối tượng theo cảm nhận Hoàn chỉnh hình Thể hiện đậm nhạt của mẫu (bằng chì) - Như vậy bằng phương pháp quan sát học sinh đã nắm vững về cấu trúc tỷ lệ đặc điểm của mẫu trước khi tiến hành bài vẽ. Phương pháp này cần được sử dụng trong suốt thời gian của tiết học và đặc biệt quan trọng vơí hoạt động 1: Quan sát và nhận xét - Qua việc vận dụng phương pháp quan sát đã tạo được hiệu quả : đã định hướng được mục đích và ý tưởng rỏ ràng, giúp cho HS nhận thức phong phú, sâu sắc và đầy đủ hơn, phát triển kĩ năng quan sát, đối chiếu, so sánh và liên hệ với thực tế, HS cảm nhận được sự đa dạng của cuộc sống... 2.2 . Phương pháp trực quan - Phương pháp trực quan là sử dụng đồ dùng dạy học đã chuẩn bị để minh học cho nội dung bài dạy, giúp người học hiểu sâu hơn. Nhờ phương pháp trực quan mà những thuật ngữ ,khái niệm về Mĩ thuật trừu tượng được làm sáng tỏ, tao điều kiện cho người học lỉnh hội kiến thức nhanh và hứng thú hơn trong học tập Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 15: Vẽ trang trí : Tạo dáng và trang trí túi xách (Lớp 8) - Giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan để học sinh nhận thấy sự đa dạng, phong phú và độc đáo của túi xách có nhiều kiểu dáng và được trang tri theo nhiều cách khác nhau ( có loại có quai xách, có loại có dây đeo,...) Cách thức trang trí túi xách rất phong phú ( bằng hình mảng, bằnh hoạ tiết,...) với nhiều cách phối hợp màu sắc khác nhau ( rực rỡ, êm dịu, mạnh mẽ, nhẹ nhàng,...) Từ những gợi ý của đồ dùng trực quan giúp học sinh hình dung được yêu cầu bài học, hứng thú hơn trong quá trình học tập, từ đó nảy sinh nhiều ý tưởng và sáng tạo trong bài thực hành -Khi vận dụng phương pháp nàyđã thu hút sự chú ý của HS, truền đạt cho nhiều người cùng một lúc, học sinh được nghe nhìn tăng khả năng nhận thức, cung cấp kiến thức từ nhiều nguồn thông tin, sử dụng được nhiều phương tiện dạy học khác nhau, dễ tổ chức, bao quát, hình dung được nội dung học tập. 2.3. Phương pháp vấn đáp Giáo viên sử dụng hệ thốg câu hỏi để thực hiện câu hỏi, để gợi mở cho học sinh về nội dung nhằm khai thác một chi tiết, một vấn đề nào đó của bài học. Tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ những hiểu biết về đối tượng. Suy nghĩ, tìm tòi và giải quyết được bài tập, nâng cao chất lượng bài vẽ bằng khả năng của mình Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 10: Vẽ tranh :Đề tài lễ hội : (Lớp 9) - GV cần xây dưng hệ thống câu hỏi gợi mở sau : Các hoạt động diễn ra vào thời điểm nào, ở đâu ? Hình ảnh cụ thể là gì ? Hình ảnh nào chính, hình ảnh nào phụ ? Quang cảnh xung quanh như thế nào ? - Trên cơ sở hệ thống câu hỏi của GV, HS trả lời, từ đó định hướng nội dung bài vẽ...Như vậy từ đề tài lễ hội HS vẽ được nhiều nội dung về đề tài này. 2.4. Phương pháp luyện tập - thực hành - Củng cố kiến thức cho HS, đồng thời trong quá trình luyện tập, HS còn tìm ra nhiều điều mới lạ giúp cho nhận thức trở nên sâu sắc, phong phú và vững vàng hơn - Phương pháp luyện tập thực hành ở môn Mĩ thuật là luyện tập HS quan sát nhận xét, đánh giá sự vật, hiện tượng xung quanh. Luyện tập cũng cố kĩ năng vẽ, nâng cao khả năng tìm tòi sáng tạo, khéo léo ; bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ...Thông qua luyện tập - thực hành, những mặt tốt và chưa tốt của HS đều bộc lộ rõ ràng. Vì vậy việc dạy và học sẽ sát đối tượng và hiệu quả hơn Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 14 : Vẽ tranh : Đề tài lực lượng vũ trang (lớp 9 ) - Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập - thực hành giúp HS thể hiện được kĩ năng vẽ tranh và vận dụng những quan sát (thực tế) sắp xếp thành nội dung bức tranh theo yêu cầu sau : - Hình ảnh chọn lọc, sinh động, thể hiện đúng nội dung - Sắp xếp các hình ảnh để tạo thành bố cục đẹp (có mảng chính, mảng phụ, sắp xếp chặt chẽ hợp lí) - Không gian trong tranh phù hợp với nội dung - Thể hiện được tình cảm của các nhân vật trong tranh - Tỉ lệ các hình ảnh trong tranh cân đối - Màu sắc trong sáng thể hiện được trang phục theo binh chủng... 2.5 . Phương pháp làm việc theo nhóm Phương pháp làm việc theo nhóm là tạo điều kiện cho mọi HS đều được tham gia vào quá trình học tập một cách tự giác bằng khả năng của mình. Phương pháp học tập này xây dưng cho học sinh tinh thần tập thể , ý thức cộng đồng với công việc chung. Đồng thời hình thành ở HS tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng với công việc chung. Đông thời hình thanh ở HS phương pháp làm việc khoa học ( tự lập kế hoạch và làm viẹc theo kế hoạch) Đối với môn Mĩ thuật, phương pháp làm việc theo nhóm thường được thực hiện khi tìm hiểu các tác phẩm nghệ thuật, bày mẫu và kựa chọn mẫu vẽ; trong các trò chơi gép hình, vẽ màu... để học sinh có điều kiện bộc lộ ý kiến tăng khả năng hợp tác và năng lực làm việc cá nhân. Ví dụ minh hoạ trong chương trình Mĩ thuật ở THCS. Bài 12 :thường thức Mĩ thuật: Sơ lược về Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam (Lớp 9 ) Học sinh hiểu được Sơ lược về Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam, biết một số loại hình và đặc điểmcủa Mĩ thuật các dân tộc ít người ở Việt Nam ( tranh thờ và thổ cẩm, nhà rông và tượng nhà mô tây nguyên, tháp và điêu khắc chăm ) Giáo viên tổ chức cho HStìm hiểu nội dung trên với phương pháp làm việc theo nhóm, cụ thể : phân mỗi nhóm tìm hiểu đặc điểm của tưng loại hình nghệ thuật của các vùng, dân tộc ( Tây Bắc,Tây Nguyên, Chăm) về Cách thức tạo hình . Chất liệu sử dụng . Nội dung phản ánh .... 2.6. Đổi mới cách sử dụng đồ dùng dạy học a. Đổi mới tranh vẽ Đưa tranh ảnh đúng lúc Tranh ảnh có nhiều hình cần che những phần không cần thiết Cần theo thứ tự trước sau Sau khi treo tranh cần cho học hinh nhìn một lúc mới đặt câu hỏi b . Đổi mới mẫu vẽ Mẫu vẽ rất quan trọng trong công việc giảng dạy mỹ thật vì nó giúp học sinh quan sát tái hiện hình tượng lên tranh vẽ Khi sử dụng cần đảm bảo: Mẫu vẽ phải đẹp , dễ vẽ Giáo viên cần nghiên cứu , tránh lúng túng và đưa ra đúng lúc Mẫu vẽ cả lớp phải nhìn thấy, nhìn rõ Khi quan sát giáo viên hướng dẫn học sinh phải trật tự chú ý 2.7. Đối với việc sử dụng giáo án điện tử PowerPoint Đây là phương tiện dạy học hiện đại có thể sử dụng nó để mở rộng kiến thức, đào sâu hiểu biết của học sinh chưa thấy Ví dụ: Khi dạy bài "sơ lược Mĩ thuật thời nguyễn" (lớp 9) Nên sử dụng chương trình phần mền để học sinh thấy được một số thành tựu Mĩ thuật thời nguyễn phát triẻn như thế nào và giá trị nghệ thuật của kho tàng văn hoá nghệ thuật dân tộc Kết quả thực hiện Kĩ năng học Mĩ thuật của học sinh THCS còn ở mức độ rất sơ đẳng. Tuy nhiên, với học sinh lớp 9, nó có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy Mĩ thuật cho các em. Với nội dung đã nêu, tôi thường vận dụng vào các tiết dạy lý thuyết và các tiết thực hành, với các bước rèn luyện kỹ năng quan sát, luyện tập - thực hành như trên tôi cảm thấy rằng học sinh đã dần dần nắm được cách cách vẽ tranh, vẽ trang trí và vẽ theo mẫu, học sinh tự mình có thể làm được các bước trên dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên. Các em cảm thấy hứng thú hơn với môn học nhất là những tiết thực hành. Giờ học Mĩ thuật trở nên nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn, học sinh cảm thấy tự tin, vận dụng nhanh, đạt kết quả tốt, lớp học sôi nổi và đặc biệt giáo viên nhận thấy rõ vấn đề đổi mới phương pháp được nâng cao lên hẳn. Sau khi tiến hành khảo sát tôi thấy chất lượng của bộ môn mình được nâng lên rõ rệt cụ thể như sau: Tổng số K9 131 HS Trung bình HS Khá HS Giỏi SL % SL % SL % 19 14 70 54 42 32 Nhìn vào 2 bảng khảo sát đánh giá trên tôi thấy rằng kết quả chất lượng khi vận dụng phương pháp mới vào quá trình dạy học so với khi chưa vận dụng phương pháp mới được nâng lên rõ rệt cụ thể như sau: Khichưa vận dụng phương pháp mới Khi vận dụng phương pháp mới Học sinh khá giỏi : 49% Học sinh khá giỏi : 86% Học sinh vẽ được bài: 52% Học sinh vẽ được bài : 90% III . KếT LUậN Và KIếN NGHị 1 . KếT LUậN Giáo dục cho học sinh phổ thông chung bằng nghệ thuật tạo hình được thực hiện chủ yếu trong giờ học môn Mĩ thuật. Để chất lượng dạy học ngày càng cao thì giáo viên phải thấy được sự phát triển của xã hội,từ đó đổi mới phương pháp dạy học, đảm bảo cung cấp kiến thức cho học sinh, GV phải đầu tư tìm tài liệu, đọc nhiều sách báo có liên qan đến bài giảng, tập trung soạn kỉ giáo án và thâm nhập giáo án. Nắm vững phương pháp dạy, vận dụng các phương pháp linh hoạt các phương pháp dạy trong tiết học phù hợp với từng đối tượng học sinh . Giáo viên đã thuận lợi hơn trong việc sử dụng các phương pháp mới vào trong dạy học, phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi chiếm lĩnh tri thức mới. Từ đó học sinh cảm thấy yêu thích bộ môn Mĩ thuật hơn do đó chất lượng của bộ môn Mĩ thuật được nâng cao rõ rệt . Ngày nay nhà nước ta đã có nhiều cố gắng đưa hội hoạ vào trong trường học, công tác giáo dục, cải cách giáo dục ở một số bộ môn đã có chiều hướng đổi mới tích cực. Vì vậy cần tạo mọi điều kiện và hướng cho các em học sinh trau dồi sự sáng tạo ở các môn nghệ thuật, cái đẹp bao giờ cũng có ở các em, giúp cho các em có được cái nhìn trong sáng đối với cái đẹp trong cuộc sống, sau này dù lớn lên ở bất kỳ hoàn cảnh nào, nghề nghiệp nào cũng luôn cần đến cái đẹp 2 . bài học kinh nghiệm Sau khi thực hiện xong đề tài này tôi xin có một vài kinh nghiêm nhỏ như sau: -Để một tiết dạy Mĩ thuật đươc thành công giáo viên phải nắm và bám chuẩn kiến thức bộ môn -Đầu tư, tìm tòi các phương pháp dạy học mới phù hợp với bộ môn,với đối tượng học sinh của mình -Phải rèn luyện cho học sinh cách quan sát về đường nét, màu sắc, bố cục, hình khối... ngay từ những tiết đầu tiên cho học sinh nắm chắc từng phần sau đó mới dạy ở các tiêt sau -Phải đầu tư nhiều vào bài giảng ngay từ khâu soạn giáo án,chuẩn bị đồ dùng,các bước lên lớp ,giảm đến mức tối đa việc cung cấp thông tin đơn thuần của giáo viên và sự tiếp thu thụ động của học sinh. -Luôn luôn cho học sinh liên hệ với thực tế cuộc sống của các em để các em dễ nhớ và dễ vận dụng -Cần có mối liên hệ tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh để kiểm tra mức độ nắm bắt kỹ năng của các em 3 . kiến nghị và đề xuất Giữa cơ quan giáo dục và cơ quan văn hoá cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhằm giải quyết những nhu cầu của công việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh (Tổ chức các cuộc thi vẽ tranh giành cho các em học sinh, hưởng ứng các cuộc thi vẽ cáctổ chức phát động trong năm, mở câu lạc bộ năng khiếu, tổ chức cho các em đi tham quan các di tích lịch sư hoặc bảo tàng Mĩ thuật. ) Tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất (có phòng học chức năng) đồ dùng phương tiện kỹ thuật dạy học, cũng như đồ dùng dạy học còn thiếu nhiều mà giáo viên không thể tự làm được... Hội đồng KH Trường THCS Cảnh Dương Cảnh Dương Ngày 17 tháng 03 năm 2009 Người viết : HUỳNH THế THảO

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!