Xu Hướng 1/2023 # Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs # Top 9 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

+ Đa số học sinh ngoan, có ý thức học tập, phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em. * Khó khăn: -Về phía học sinh: + Học sinh của trường gồm đa số là đối tượng học sinh dân tộc, sống trên địa xã EaBông, trong đó học sinh các buôn Rieng, Buôn Knul, Thôn 10/3 ở rất xa trường, học sinh đi lại khó khăn. + Đại đa số gia đình học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn, đa số gia đình thuộc diện hộ nghèo. + Một số phụ huynh còn lo việc làm kinh tế, chưa coi trọng vấn đề học tập, ít chú ý đến việc học của con em. Chưa biết động viên, khuyến khích con em học tập. Còn để con em bỏ tiết, bỏ học. + Đặc biệt: Học sinh dân tộc thiểu số có tính tự ti, thiếu tự tin và bản chất ít nói nên chưa mạnh dạn phát biểu xây dựng bài cũng như không dám nêu những thắc mắc hoặc trình bày những vấn đề khó hiểu với thầy cô và bạn bè. Khi được mời trình bày trước đông người học sinh có phần lúng túng. – Về phía giáo viên: + Một số giáo viên còn trẻ, ít hoặc chưa có kinh nghiệm giảng dạy. + Một số giáo viên ở một số vùng miền có giọng nói khó nghe, nói nhanh, dẫn đến học sinh nghe không hiểu. – Về đồ dùng dạy học: + Chưa có các loại sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình độ và lứa tuổi của học sinh, giúp học sinh có điều kiện thu nhập thông tin, nâng cao trình độ tiếng Anh, có hiểu biết thêm về xã hội. b. Thành công, hạn chế: – Thành công là đã tạo được hứng thú cho học sinh, giúp các em cũng cố lại những kiến thức đã học của các môn học khác, các em liên hệ với các tình huống trong cuộc sống, biết vận dụng kiến thức vào thực tế để mang lại lợi ích cho bản thân và cho mọi người. – Hạn chế chủ yếu đề tài này khi giảng dạy trên lớp phải sử dụng phương tiện dạy học là máy chiếu mới có thể chuyển tải được hết những cách xử lí các tình huống trong thực tể khi liên hệ, nhưng do trường sở tại điều kiên cơ sở vật chất còn thiếu thốn và vấn đề xử dụng máy chiếu thường xuyên trong các tiết dạy là chưa đáp ứng được. c. Mặt mạnh, mặt yếu: – Mặt mạnh là các em học sinh trung bình, khá giỏi tham gia rất hào hứng, và còn kích thích các em tìm tòi hiểu biết nhiều hơn. – Mặt yếu là các em học sinh yếu tiếp thu chậm, tham gia tích cực nhưng thực sự kết quả chưa cao. d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động: Với bộ môn Tiếng Anh: học sinh – đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số đã học chậm các môn học khác đồng thời cùng một lúc học cả 3 thứ tiếng ( tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt và cả tiếng Anh nữa) là rất khó. Hơn nữa các em học sinh chưa thật sự tự giác, tích cực trong việc học của mình. Tình hình xã hội hiện nay nhiểu sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường vẫn không xin được việc làm tác động đến tư tưởng của phụ huynh trong việc quan tâm đến việc học của con em mình và từ đó tác động tiêu cực đến ý thức cũng như thái độ học tập của học sinh. e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra: – Nhiều học sinh thấy chán môn Tiếng Anh không muốn học vì đặc điểm của trường chúng tôi thuộc vùng khó khăn, số lượng học sinh là dân tộc thiểu số chiếm 56% tổng số học sinh. Việc học tiếng Việt đối với các em vốn dĩ đã xem như là học một ngoại ngữ . Do đó việc học Tiếng Anh đối với các em lại càng khó hơn. Hơn nữa do là thuộc vùng khó khăn nên trong công tác tuyển sinh lớp đầu cấp nhà trường cũng gặp nhiều khó khăn. Các học sinh khá giỏi thường đăng ký vào các trường có điều kiện tốt hơn. Kết quả là số lượng học sinh nhà trường tuyển được đa số là học sinh có học lực trung bình và yếu nhiều. Môn tiếng Anh là một môn học về ngôn ngữ có phần khó, nhiều học sinh không hứng thú nên thấy chán và bỏ qua, không quan tâm đến. – Cũng do các nguyên nhân nêu trên nên dẫn đến chất lượng học tập thống kê qua các kì kiểm tra vẫn còn thấp. II. 3. GIẢI PHÁP: a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp: b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp: Cách làm cụ thể như sau: Bước 1. Chọn đề tài Chọn một tiết dạy nào đó trong chương trình tiếng Anh khối 6,7,8 hoặc 9. Sau đó xác định xem đề tài nó về vấn đề gì, có liên qua đến những kiến thức đã học của các môn học nào. Bước 2. Trao đổi với đồng nghiệp: Bước 3. Thu thập dữ liệu: Sau khi giáo viên đã xác đinh đươc những nội dung sẽ tích hợp vào đề tài của mình thì bước tiếp theo là thu thập nhưng dữ liệu, hình ảnh, video minh họa. Có thể tìm trong sách báo, trên mạng, hoạc trong các bộ phim mình đã xem Bước 4. Thực hiên soạn bài giảng: Soạn trên phần mềm power point, cần áp dụng phong phú các loại bài tập, trò chơi để tạo sự sinh động hứng thú cho bài dạy. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng các trò chơi và cần ấn định thời gian cho mỗi phần. Bước 5. Hoàn thành hồ sơ: Gồm các loai hồ sơ sau: PHỤ LỤC II PHIẾU THÔNG TIN VỀ GIÁO VIÊN DỰ THI – Sở Giáo Dục và Đào tạo tỉnh Đăk Lăk – Phòng Giáo Dục và Đào tạo huyện Krông Ana – Trường Trung Học Cơ Sở Tô Hiệu – Địa chỉ : Xã Ea Bông, Huyện Krông Ana, Tỉnh Đăk Lăk – Điện thoại : 05003650606. Email Thông tin về giáo viên – Họ và tên giáo viên : Diệp Bích Thùy – Ngày sinh : 18 – 06 – 1976. Môn : Tiếng Anh – Điện thoại : 0974450291. Email: bichthuycomay@gmail.com +Phiếu mô tả hồ sơ dạy họcdự thi của giáo viên. PHỤ LỤC III PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN 1. Tên hồ sơ dạy học UNIT 6: THE ENVIRONMENT LESSON 3: READ (English 9) ( Tích hợp kiến thức môn Tiếng Anh lớp 9 và môn Giáo Dục Công Dân lớp 8 giúp học sinh hình thành ý thức bảo vệ môi trường, phát huy tính tự giác và tính cộng đồng trong mỗi cá nhân.) 2. Mục tiêu bài học Sau khi học xong bài học này học sinh có khả năng: * Kiến thức: – Hiểu được rõ hơn vấn đề ô nhiễm môi trường và tầm quan trọng của việc giữ gìn môi trường không bị ô nhiễm. – Nhận thức được một số nguyên nhân mà con người đã gây ra ô nhiễm môi trường. – Liên hệ lại với chương trình Giáo Dục Công Dân lớp 8 ( Bài 9 : Góp phần xây dựng nếp sống văn hóa cộng đồng, Bài 11: Lao động tự giác và sáng tạo ) để phát huy tính cộng đồng và tính tự giác trong suy nghĩ và trong hành động. Biết yêu quý thiên nhiên và bảo vệ môi trường. * Kỹ năng: – Sử dụng Tiếng Anh để có thể nghe, nói, đọc, viết các vấn đề về môi trường. – Trang bị những kiến thức cần thiết trong việc bảo vệ môi trường. – Linh hoạt trong các hoạt động cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường. * Thái độ: – Có ý thức bảo vệ môi trường, yêu quý thiên nhiên, quan tâm đến cộng đồng, biết yêu thương mọi người, yêu quê hương, yêu tổ quốc . – Rèn luyện ý thức cộng đồng cao và phát huy tính tự giác. 3. Đối tượng dạy học của bài học – Học sinh lớp 9. ( Lớp học gồm 30 học sinh ) – Trình độ của các em ở mức trung bình nên khi giảng nội dung bài học trong sách giáo khoa giáo viên giảng bằng Tiếng Anh, nhưng khi đưa phần tích hợp và liên hệ thực tế giáo viên có thể cho các em sử dụng Tiếng Việt ở một số phần để đảm bảo các em có thể hiểu được vấn đề một cách triệt để và liên hệ thực tế tốt hơn. 4. Ý nghĩa của bài học – Bài học có ý nghĩa, vai trò rất lớn trong cuộc sống đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Thời kỳ mà vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết và cả thế giới đang chung tay trong công tác bảo vệ môi trường. Bài học cung cấp cho học sinh một số kiến thức về vấn đề ô nhiễm môi trường bằng Tiếng Anh. Đồng thời giúp học sinh nâng cao được ý tự giác, ý thức cộng đồng, ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ thế giới mà chúng ta hiện đang sinh sống . 5. Thiết bị dạy học, học liệu: – Giáo án, đề cương bài giảng. – Máy chiếu, máy tính cá nhân, camera, phấn viết… – Phiếu trắc nghiệm ( giấy A4 ) 6. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học Cấu trúc bài giảng (Thời gian : 45 phút) TT Nội dung Thời gian Phương pháp chủ đạo 1 Ổn định lớp (Stabilization.) 1’ Hỏi đáp 2 Dẫn nhập ( Warm-up: ) 3’ Hình ảnh, hỏi đáp 3 (Leading / Pre- reading) 9’ Trực quan, thuyết trình, hỏi đáp 4 Giải quyết vấn đề (While – reading ) 16’ Thuyết trình, trực quan,hỏi đáp, chơi trò chơi. 5 Kết thúc vấn đề ( Post –reading ) 14’ Trực quan, thuyết trình, hỏi đáp. 6 Hướng dẫn tự học ( Homework ) 2’ Thuyết trình HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC – Hướng dẫn vận dụng kiến thức liên môn ( Giáo dục công dân ) để hình thành ý thức. – Đánh giá sản phẩm theo từng cá nhân I. ỔN ĐỊNH LỚP HỌC: Thời gian: 1’ – Chào hỏi: Good morning – Kiểm tra sĩ số: 30/30 II. THỰC HIỆN BÀI HỌC: Thời gian 3’ Nội dung WARM UP Hoạt động của Giáo viên và học sinh I. Dẫn nhập ( Warm-up ) Giáo viên (Gv): Hiện một số hình ảnh trên bảng và hỏi học sinh một số câu hỏi về ý thức đối với những hành động gây ô nhiễm môi trường: Học sinh (Hs): Trả lời Gv: Hỏi tiếp Hs: Lắng nghe và trả lời: Gv: Dẫn dắt học sinh vào bài Now we study a lesson about people’s attitute to the environmental pollution. 9’ UNIT 6: THE ENVIRONMENT Lesson 3: Read ( Pre-reading ) 1. Từ mới Gv: Giới thiệu bài mới Hs: Lắng nghe. Gv: giới thiệu từ mới bằng tranh. Gv: What is this? Hs: It is a treasure ( kho báu) (Học sinh đã có khâu soạn bài trước ở nhà nên các em có thể dể dàng trả lời những câu hỏi này) Gv: Cho học sinh đọc đồng thanh theo âm cài sẵn Hs: Đọc từ ( đọc cá nhân, đọc cả lớp) Gv: Gọi một số em đứng tại chỗ đọc. Hs: đọc từ Gv: sữa lỗi phát âm 1. Kiểm tra việc hiểu từ Gv: Hiện lên bảng một phần bài tâp kiểm tra từ, cho một hs đọc qua, giải thích một số cụm từ mới và gọi bất kì học sinh nào lên chọn từ của cột A phù hợp với cụm từ của cột B Hs: làm theo yêu cầu của giáo viên Gv: Hiện kết quả và sữa sai (nếu có) 16’ 1.Read the poem about the environment: 2. Match the lines of the poem to the suitable headings: Lines Headings Answer 1 1 – 6 a. The mother’s request to the son. 1 - 2 7 – 8 2 - 3 9 – 12 c. Effects of pollution in the future. 3 - 4 13 – 16 d. The son’s ideas of polluting the place. 4 - 3. True or False *Đáp án: 2. True 3. True 5. True 4.Complete the open – dialogue: 5.Answer the questions (1 – 5) on page 51 a) According to the mother, what will happen if the pollution goes on? b) Who does the mother think pollute the environment? c) What will happen to the boy if he keeps on asking his mother such questions? d) Do you think the boy’s question ( lines 9 – 10 ) is silly? Why ( not )? 6. Lucky number. III. Giải quyết vấn đề (While – reading ) 1.Read the poem about the environment: Hs: Lắng nghe Gv: Đọc lại bài một lần nữa giải thích thêm một số cụm từ, và yêu cầu học sinh đóng vai đọc tại chỗ Hs: Đóng vai đọc theo cặp. Gv: gọi một cặp đọc trước lớp. 2. Matching (bài tập nối) Gv:Hiện lên bảng bài tập “Matching” Cho học sinh làm bài tập “Matching” nối các dòng thơ với ý chính cho phù hợp ( mục đích của phần này là giúp các em hiểu rõ hơn nội dung ý chính của bài thơ) Hs: Làm việc theo nhóm (4 em) Gv: trao đổi bài làm của các nhóm và gọi đại diện của một nhóm đứng lên đọc to kết quả và hiện đáp án so, sánh kết quả Hs: Nhóm này chữa bài của nhóm kia và so kết quả. Gv: Nhận xét 3. True/False (bài tập đúng /sai) Gv: Hiện bài tập “True/ False” ( đúng / sai ) lên bảng, gọi một học sinh đọc qua, cho các em suy nghĩ 1 phút , sau đó gọi một số cá nhân chọn qua một lượt True(đúng) hoặc False (sai). . Hs: 5 em chọn 05 câu. Gv: Gọi hs khác nhận xét, sau đó bấm vào nút còn lại sẽ hiện đáp án chính xác, nếu chọn False(sai) thì nhấp chuột một lần nữa sẽ chữa câu đó thành đúng. 4. Gap filling: ( điền vào chỗ trống) Gv. Hiện một đoạn hội thoại mở (chứa nội dung tóm tắt ý chính của bài thơ), cho hs làm việc theo cặp điền vào chỗ trống. ( Mục đích của bài tập này là giúp các em hiểu sâu hơn nội dung của bài và cung cấp thêm một số mẫu câu bằng tiếng Anh để các em có thể sử dụng trong phần trả lời câu hỏi sau.) Hs: làm việc theo cặp Gv: Gọi một cặp thực hành trước lớp, và hiện đáp án sữa lỗi. 5. Anwser the questions: ( Trả lời câu hỏi ) Gv: Cho hiện lên bảng nội dung câu hỏi, gọi một hs đọc qua, yêu cầu các em thực hành theo cặp hỏi và trả lời. Hs: làm theo cặp 6. Play a game “ Lucky number” Gv: Chia lớp thành 02 nhóm, nhóm A và nhóm B chơi trò chơi con số may mắn, có 06 con số, 02 số may mắn, hai nhóm lần lượt chọn, nếu chọn trúng số may mắn, được thưởng 10 điểm, nếu chọn trúng 04 số kia phải trả lời câu hỏi, trả lời đúng mỗi câu được 10 điểm ( nội dung câu hỏi của phần trên ). Chọn xong hết lược, đội nào được nhiều điểm hơn sẽ thắng. Hs: Chơi theo đội 14’ 2.Look at the picture and answer the questions. What should we do to protect the environment? 1.Sơ đồ tư duy: What should we do to protect the environment? 3. Read the conversation. 4. Let watch a video and anwser the qustions. Trong năm 2014, nhờ vào điều gì mà Đảng và nhân dân đã buộc Trung Quốc phải rút giàn khoan 981 khỏi quần đảo Trường Sa thân yêu của chúng ta sau 75 ngày chiếm đóng. IV. Kết thúc vấn đề ( Post –reading ) ( PHẦN DẠY TÍCH HỢP ) Gv: Cho hiện ra một số hình ảnh về việc con người đã gây ra ô nhiễm môi trường bằng nhiều cách và hỏi các em bằng Tiếng Anh. What should we do to protect the environment? Hs. Trả lời ( có thể trả lời bằng Tiếng Anh hoặc Tiếng Việt. Nếu chúng ta bắt buột các em trả lời bằng Tiếng Anh thì các em không thể nói hết ý mình muốn nói, vì kiến thức Tiếng Anh của các em có giới hạn. Gv có thể giúp các em chuyển tải những suy nghĩ của các em từ Tiếng Việt sang Tiếng Anh) Gv: Hiện bản đồ tư duy hệ thống lại những ý chính giúp các em hiểu được vấn đề tốt hơn. Gv: Nhấn mạnh rằng ngoài nội dung nói về ô nhiễm môi trường, bài thơ còn gửi đến chúng ta một thông điệp khác rất quan trọng, sau đó Gv đưa một đoạn đối thoại vắn tắt của người mẹ và cậu con trai, yêu cầu học sinh đọc kỷ lai rồi Gv đặt câu hỏi: Hs: trả lời Gv: Cho các em xem qua một đoạn video về một số tình huống thường gặp trong cuộc sống hàng ngày và cách cư xử đúng đắn của những người tốt, rồi đặt câu hỏi: Hs: Trả lời ( đáp án là: Voluntary character and community character ( tính tự giác và tính cộng đồng) Gv: Kết luận Hs: Lắng nghe Gv: Cho hiện một bức tranh về việc người dân Việt Nam ta biểu tình phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan 981 trái phép trên Đảo Trường Sa của chúng ta. Sau đó đặt câu hỏi: Hs: Trả lời Nhờ ý thức tự giác và tính cộng đồng cao. Gv: Kết luận Hs: Lắng nghe 2’ Homework: – Learn by heart new vocabulary – Practice reading the poem – Do Ex a, b / p.51 again – Prepare unit 6. Write V. Hướng dẫn tự học ( Homework ) Gv. Nhắc nhở Hs học bài ở nhà Hs: Lắng nghe và nhớ 7. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập – Sau khi học xong, giáo viên cho học sinh làm bài kiểm tra tại lớp. – Nội dung bài kiểm tra gồm 50% kiến thức bài học ( nội dung Tiếng Anh ) 50% kiến thức tích hợp liên môn ( nội dung Tiếng Việt ) – Hình thức kiểm tra là làm bài trắc nghiệm trên giấy. Bài kiểm tra gồm 16 câu hỏi trắc nghiệm, mỗi câu 1.25 điểm, tổng điểm là 20, sau đó quy về điểm 10. ( Có phiếu trắc nghiệm kèm theo trong hồ sơ.) – Thời gian làm bài là 15 phút. 8. Các sản phẩm của học sinh: Tổng số học sinh : 30 em Kết quả bài kiểm tra đạt : 95% ( có gửi kèm bài làm của học sinh trong hồ sơ) Hiệu Trưởng Ngày 05 tháng 01 năm 2015 Giáo viên Diệp Bích Thùy c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp; * Cần chuẩn bị tốt các khâu sau: – Giáo viên phải phải nắm rõ nội dung chương trình môn học Tiếng Anh cấp THCS. – Giáo viên phải có am hiểu một số kỹ năng soạn giảng sử dụng công nghệ thông tin. – Giáo viên phải linh hoạt trong khâu tích hợp kiến thức, phải khoa học, logich, không áp đặt, máy móc. – Giáo viên phải xây dựng một đề kiểm tra trắc nghiệm mang kiến thức bao quát, khoa học vừa có Tiếng Anh vừa có Tiếng Việt. – Phải chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học như: máy chiếu, laptop, loa … d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp; – Học sinh phải tập trung chú ý, phát huy hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân. Giáo viên phải bao quát lớp, linh hoạt giúp các em trả lời tốt các câu hỏi, có thể liên hệ thực tế giáo dục đạo đức cho các em ở những nội dung cho phép. Ở phần tích hợp thực hiện linh hoạt sẽ giúp các em hiểu bài vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống được tốt hơn. e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu II. 4. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC: Sau khi thực hiện xong bài giảng giáo viên cho học sinh làm bài kiểm tra ( cả những lóp không áp dụng phương pháp dạy học tích hợp cũng làm bài này) Nội dung đề kiểm tra: To Hieu Secondary school PHIẾU KIỂM TRA KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Class 9A5 Môn : Tiếng Anh Name: Thời gian : 15 phút Trong bài kiểm tra này các em sẽ vận dụng kiến thức liên môn (Tiếng Anh, Giáo Dục Công Dân và những hiểu biết thực tế) để trả lời 16 câu hỏi trắc nghiệm. 08 câu bằng Tiếng Anh, 08 câu bằng Tiếng Việt. If we pollute the , we will have no fresh water to use? air water forests 2. We are going to take part in cleaning the areas near our school next Sunday. a. into b. about c. up 3. Governments should . heavily anyone doing harm to the environment. a. fine b.

Đề Tài Vận Dụng Một Số Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Ngữ Văn

Với định hướng ” Đổi mới phương pháp dạy học” phải là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, từng môn học;

Bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;

Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập cho học sinh;.

Thì việc vận dụng đổi mới phương pháp vô cùng cần thiết.

Để làm dược yêu cầu trên, từ khi cải cách giáo dục, thay sách giáo khoa, . chúng ta đã đổi mới nội dung giáo dục THCS: Giảm quá tải, tăng tính thực tiễn và tính thực hành, đảm bảo tính vừa sức, tính khả thi,.

Chuyên đề: Vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực trong môn Ngữ văn Tổ Khoa học xã hội Trường THCS Kỳ Sơn Người thực hiện: Lê Thị Thu Hà I. Đặt vấn đề Dạy học là một môn nghệ thuật. Nghệ thuật ấy không phải ai cũng thể nghiệm giống nhau. Với định hướng " Đổi mới phương pháp dạy học" phải là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, từng môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập cho học sinh;... Thì việc vận dụng đổi mới phương pháp vô cùng cần thiết. Để làm dược yêu cầu trên, từ khi cải cách giáo dục, thay sách giáo khoa, ... chúng ta đã đổi mới nội dung giáo dục THCS: Giảm quá tải, tăng tính thực tiễn và tính thực hành, đảm bảo tính vừa sức, tính khả thi,... Nhìn chung, các giờ học giáo viên đã chuyển tải kiến thức, học sinh tiếp nhận bài học khá sinh động. Năm học 2010 - 2011, Bộ GD & ĐT đã triển khai và ban hành hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức- kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông các môn học và đưa ra một số kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng trong dạy - học Ngữ văn ở trường THCS. Từ thực tế trên, năm học 2010 -2011, tổ KHXH trường THCS Kỳ Sơn thực hiện chuyên đề " Vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực" trong giảng dạy ngữ văn. II. Nội dung: Phần một: Cấu trúc phân môn. Bộ môn ngữ văn bao gồm 3 phân môn. Mỗi phân môn có đặc trưng riêng. Vì vậy khi giảng dạy, giáo viên phải bám sát đặc trưng để có phương pháp phù hợp. Với phân môn Văn: Nhằm hướng học sinh, giúp học sinh tham gia khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm, để học sinh thực sự tự phát triển. Công việc của giáo viên không chỉ tập trung vào trang văn, áng văn mà cần có công đoạn sáng tạo. Nghĩa là, giáo viên phải hướng dẫn, tổ chức cho học sinh thực sự hoạt động ở trên lớp để khám phá tác phẩm, từ đó phát hiện và phát triển con người mình.( Thày phải thiết kế công việc làm của học sinh để từ hình tượng tác giả và tác phẩm, tạo dựng đựơc một hình ảnh của bạn đọc trong từng cá thể học sinh.) Với phân môn Tập làm văn: Mỗi chương đảm bảo cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho 1 kiểu làm bài. Mỗi kiểu bài bao giờ cũng bắt đầu bằng một tiết khái quát tìm hiểu chung về đặc điểm kiểu bài và phương pháp làm bài kèm theo một số tiết luyện tập thực hành. Giúp học sinh làm được một văn bản, các kĩ năng : Tìm hiểu- phân tích đề; rèn luện kĩ năng dựng đoạn, liên kết đoạn, viết bài hoàn chỉnh,.. đã đặt ra cho giáo viên những yêu cầu cụ thể và phù hợp với các đối tượng học sinh trong cách ra đề, hướng dẫn. Với môn Tiếng Việt: Nhìn chung theo hướng: Giáo viên truyền thụ cho học sinh những kiến thức trong SGK theo phương pháp: Diễn giảng, hỏi đáp, nêu vấn đề, quy nạp, suy diễn, thực hành,... Các thao tác này đôi lúc còn lặp đi lặp lại, chưa gây hứng thú trong việc lĩnh hội kiến thức, có lúc thày trình bày lý thuyêt quá dài, thời gian luyện tập của học sinh quá ít, không phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, kém sinh động,... Phần hai: Giới thiệu về phương pháp dạy học. Căn cứ tài liệu tập huấn giáo viên: Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục PT môn ngữ văn cấp THCS: Giới thiệu về phương pháp dạy học: 1. Quan điểm dạy học. 2. Phương pháp dạy học. 3. Kĩ thuật dạy học. 4. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học. 5. Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học. Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường PT là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo " Phương pháp dạy học tích cực." Với các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Làm cho "Học" là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con người mới tự tin, năng động sáng tạo trong cuộc sống. Phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt động, thụ động. Kĩ thuật dạy học tích cực là hạt nhân của phương pháp dạy học tích cực, hướng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nghĩa là hướng vaò phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào việc phát huy tính tích cực của người dạy. 6. Đặc trưng cơ bản của " Phương pháp dạy học tích cực". a, Dạy học tích cực phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện hoạt động học tập của học sinh. b, Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp học tập và phát huy năng lực tự học của học sinh. c, Dạy học phân hoá kết hợp với hợp tác. 7. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà phải vận dụng mộy cách hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phương pháp hiện đại cùng với các phương pháp dạy học tích cực đã được sử dụng tù những năm học trước đây đó là: 1, Phương pháp vấn đáp. 2, Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề. 3, Phương pháp đóng vai. 4, Phương pháp thuyết trình ( Giảng bình, thuyết giảng). 5, Phương pháp tổ chức học sinh hoạt động tiếp nhận các tác phẩm trong gipờ đọc văn ( Phát huy vai trò bạn đọc sáng tạo của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương). Phần ba: Các kĩ thuật dạy học tích cực. Năm học 2010- 2011, tổ KHXH sẽ thực hiện một số kĩ thuật dạy học tích cực. 1. Kĩ thuật động não. Là sự vận dụng trí tuệ (Động não) tập thể để giả quyết một vấn đề phức tạp. Động não là kĩ thuật trong dạy học nhằm giúp HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. - GV nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm, khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt. - Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưc lên bảng hoặc giấy khổ to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp. - Phân loại ý kiến. 2. Học theo góc. Là phương pháp tổ chức hoạt động học tập theo đó HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học đảm bảo cho HS học sâu và học thoải mái. Các bước dạy học theo góc như sau: - Bước 1: Chuẩn bị: + Lựa chọn nội dung bài học phù hợp. + Xác định nhiệm vụ cụ thêt cho từng góc. + Thiết kế các hoạt động để thực hịên nhiệm vụ ở từng góc bao gồm phương tiện/ tài liệu ( tư liệu nguồn, văn bản hướng dẫn làm việc theo góc, bản hướng dẫn theo mức độ hỗ trợ, bản hướng dẫn tự đánh giá,...) - Bước 2: Tổ chức hoạt động học tập theo góc: + Giới thiệu bài học và các góc học tập. + HS được lựa chọn góc theo sở thích, sau đó học luân phiên tại các góc theo thời gian quy định (VD 10-15' mỗi góc) để đảm bảo học sâu. + Tổ chức trao đổi/ chia sẻ (Thực hiện linh hoạt). 3. Kĩ thuật các mảnh ghép. Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vị phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực của HS : nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2). - Vòng 1: Hoạt động theo nhóm, mỗi nhóm đựoc giao 1 nhiệm vụ VD: Nhóm 1: Nhiệm vụ A; Nhóm 2: Nhiệm vụ B; Nhóm 3: Nhiệm vụ C,... - Vòng 2: Hình thành nhóm mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2, 1 người từ nhóm 3,...) 4. Kĩ thuật "Khăn phủ bàn". Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm cuả cá nhân HS, phát triển mô hình hợp tác giữa các HS. - Thực hiện kĩ thuật " Khăn phủ bàn" qua 2 giai đoạn: VD: Vận dụng kĩ thuật này vào việc hướng dẫn HS khám phá về ý nghĩa sâu sắc ở khổ thơ cuối bài Sang thu. 5. Sơ đồ KWL Dựa trên sơ đồ KWL, người học tự đánh giá được sự tiến bộ của mình trong việc học, đồng thời Gv biết được kết quả học tập của người học, từ đó điều chỉnh việc dạy học cho hiệu quả. 6. Học theo dự án. Học theo dự án ( Project Work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống. Các bước học theo dự án: - Bước 1: Lập kế hoạch. - Bước 2: Thực hiện dự án. - Bước 3: Tổng hợp kết quả. Bao gồm các công việc: Xây dựng sản phẩm - Trình bày sản phẩm - Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện dự án. Phần bốn: áp dụng cụ thể vào bài dạy. Ví dụ 1: Dạy bài "Những câu hát châm biếm"( Tiết 14) Đây là bài ca giúp HS nắm được ứng xử của các tác giả dân gian trước những thói hư tật xấu, những hủ tục lạc hậu trong xã hội. * Vấn đề được tìm hiểu đưa ra trước tập thể lớp theo câu hỏi: ? Trong bài ca dao thứ nhất, chân dung "chú tôi" được giới thiệu qua những chi tiết nào? HS sẽ đưa ra nhiều tín hiệu. Trong đó có thông tin được thể hiện qua từ "hay", " ước" "hay"+ tửu, tăm + nước chè đặc + nằm ngủ trưa " ước"+ ngày mưa + đêm thừa trống canh * GV tập hợp ý kiến và tiếp tục phát vấn: ? Em hiểu như thế nào về từ " hay"? ? Nghĩa của từ " hay" trong từ điển được hiểu là gì?( giỏi giang) ? Theo em, từ " hay" ở bài ca này có được hiểu là " giỏi giang" không? Vì sao? Ví dụ 2: Dạy bài " Luyện tập cách làm văn biểu cảm"( Tiết 28) Với mục tiêu: Giúp HS khắc sâu kiến thức đặc điểm thể loại biểu cảm, vận dụng các thao tác làm văn biểu cảm và thể hiện tình cảm, cảm xúc. GV nên sử dụng "kỹ thuật mảnh ghép" và kỹ thuật " khăn phủ bàn" để hướng dẫn HS. * Sử dụng " Kỹ thuật mảnh ghép": Sau khi cho HS tìm hiểu đề, tìm ý, GV phân nhóm học sinh thực hiện bước lập dàn ý + Vòng 1: Mỗi dãy bàn hàng dọc là 1 nhóm Yêu cầu mỗi nhóm làm một nhiệm vụ: - Nhóm 1: Lập dàn ý phần mở bài - Nhóm 2: Lập dàn ý phần thân bài - Nhóm 3: Lập dàn ý phần kết bài Hết thời gian quy định, HS chuyển nhóm. + Vòng 2: Các nhóm mới được hình thành bằng cách sát nhập thành viên của ba nhóm theo dãy bàn hàng ngang. Cứ 2 bàn là một nhóm. Yêu cầu các nhóm trình bày dàn ý đã làm. Như vậy, lúc này mỗi nhóm đã có đủ dàn ý 3 phần. * Sử dụng kỹ thuật " khăn phủ bàn" GV yêu cầu HS viết một số đoạn văn. + Giai đoạn 1: GV chia nhóm theo dãy bàn hàng ngang. Các dãy tự viết từng phần theo phân công: Nhóm 1: Phần mở bài Nhóm 2: Phần thân bài Nhóm 3: Phần kết bài + Giai đoạn 2: Các dãy bàn hàng dọc cùng đưa ra nội dung Các dãy bàn hàng ngang cùng đưa ra nội dung Ví dụ 3: Dạy bài " Từ đồng nghĩa"( Tiết 35) GV dùng các kỹ thuật dạy học tích cực hướng dẫn HS làm bài tập củng cố kiến thức từng phần bài học * Phần I: Thế nào là từ đồng nghĩa Sau khi hình thành khái niệm về từ đồng nghĩa, GV dùng " Kỹ thuật động não" hướng dẫn HS làm bài tập 1+ 2( SGK 115) để củng cố kiến thức phần I. * Phần II: Phân loại từ đồng nghĩa GV dùng " kỹ thuật mảnh ghép hướng dẫn HS làm bài tập 3+ 5( SGK 116) Bằng kỹ thuật này, HS nhanh chóng tiếp cận với nội dung bài học : Từ đồng nghĩa được phân làm 2 loại: Từ đồng nghĩa hoàn toàn( sắc thái nghĩa giống nhau, có thể thay thế cho nhau được) Từ đồng nghĩa không hoàn toàn( sắc thái nghĩa khác nhau, không thể thay thể cho nhau được) * Phần III: Cách sử dụng từ đồng nghĩa GV dùng " kỹ thuật khăn phủ bàn" để HS vận dụng làm bài tập 6( SGK 116) ý kiến cá nhân có thể chưa chính xác( Giai đoạn 1), ý kiến tập thể sẽ bổ trợ để các em nhận ra chỗ thiếu, chưa hoàn thiện trong bài tập của mình( Giai đoạn 2) III. Kết luận Với các hình thức vận dụng kỹ thuật dạy học phù hợp trong từng bài, từng phần, phần nào đã giúp HS nắm bắt kiến thức nhanh hơn. Trong quá trình thực hiện, ở kỹ thuật này hay kỹ thuật khác có thể có lúc dễ thực hiện, không tốn kém, sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy đông tối đa tríb tuệ của tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo diều kiện cho nhiều học sinh tham gia. Song, có lúc, kỹ thuạt này hay kỹ thuật khác có thể đi lạc đề, mất thời gian nhiều trong việc chọ các kiến thức thích hợp. Có thể có một số học sinh tích cực nhưng lại có học sinh thụ động. Như vậy, không phải giờ học nào cũng thực hiện được tất cả các kĩ thuật dạy học trên. Vì vậy, tuỳ từng tiết học, từng kiểu bài, giáo viên vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực cho phù hợp. . K ( Điều đã biết) Know W ( Điều muốn biết) What L ( Điều học được) Learn An-đéc- xen được mệnh danh là "người kể chuyện cổ tích" có nhiều tác phẩm nổi tiếng... Cô bé bán diêm có phải là chuyện cổ tích không? Vì sao? Cô bé bán diêm có tính chất của cổ tích: Là hiện thực trong mộng tưởng của những trẻ em nghèo, bất hạnh. Có thể trong 2 bài tập này, HS sẽ đưa ra các từ đồng nghĩa không thống nhất với nhau, GV căn cứ vào bài làm của các em để sửa cho đúng.

Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Thí Nghiệm Chương Trình Sinh Học 6

Người thực hiện: Ngô Thị Minh Hiền Tổ : HÓA SINH Đơn vị: Trường THCS Thành Phố Bến Tre PHẦN I : MỞ ĐẦU ïï&ïï I/-Bối cảnh đề tài: ï Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa trên các quan sát thực tế, các thí nghiệm, thực hành để rút ra những kiến thức chung, khái quát về các hiện tượng tự nhiên và các qui luật của sinh học. ï Song song đó, dạy học theo phương pháp mới, đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu, xây dựng giờ học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm của quá trình Dạy- Học, việc dạy thí nghiệm thực hành và rèn kỹ năng thực nghiệm cho học sinh, kích thích óc tìm tòi, nghiên cứu, tích cực tham gia trong quá trình học tập là điều quan trọng và cần thiết trong việc tìm hiểu về bộ môn sinh học ở nhà trường phổ thông. II/-Lý do chọn đề tài: ï Sinh học 6 nghiên cứu chủ yếu về thực vật, về sự sinh trưởng, phát triển của thực vật, về các quá trình quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước, nảy mầm của hạt, sự dài ra của thân, sự vận chuyển các chất trong thân, để hiểu được các quá trình này cần phải qua tiến hành các thí nghiệm. ïVậy làm thế nào cho học sinh nắm vững được các thao tác tiến hành thí nghiệm, mục đích thí nghiệm và biết cách thiết kế một thí nghiệm đơn giản phục vụ cho học tập, tham gia tích cực trong giờ học Sinh học, và biết cách tự học tự nghiên cứu sau này? ïĐó là lý do bản thân chọn đề tài: “Một vài kinh nghiệm trong giảng dạy thí nghiệm chương trình sinh học 6″ II/- Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: – Đề tài nghiên cứu nhằm phục vụ cho các tiết giảng dạy có tiến hành thí nghiệm của chương trình sinh học 6: Thân dài ra do đâu? Vận chuyển các chất trong than; Quang hợp; Hô hấp; Thoát hơi nước; Hạt và các bộ phận của hạt; Điều kiện cần cho sự nảy mầm của hạt, – Đối tượng: học sinh lớp 6. III/- Mục đích nghiên cứu: Học sinh nắm được mục tiêu, đối tượng, các bước tiến hành và giải thích được kết quả thí nghiệm, trên cơ sở đó rút ra các kiến thức chung, tổng quát về điều cần nghiên cứu và từ đó vận dụng vào giải thích thực tế hoặc sản xuất ở gia đình, địa phương. V/- Điểm mới trong kết quả nghiên cứu: – Nghiên cứu dựa trên việc thực hiện các thí nghiệm phục vụ cho học tập bộ môn của học sinh ở từng lớp à học sinh tích cực tham gia giờ học, tìm tòi, nghiên cứu khoa học, giải thích tốt các ứng dụng trong thực tiễn đời sống. PHẦN II : NỘI DUNG ĐỀ TÀI I/ Cơ sở lý luận: Năm học 2011 – 2012, là năm tiếp tục triển khai tích cực và hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị với yêu cầu đặc thù của ngành là gắn chặt với các cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Mặt khác “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Trích: “Chương trình giáo dục phổ thông”, ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. II/ Thực trạng của vấn đề: Sinh học là môn học khoa học thực nghiệm, kiến thức sinh học vừa có ở kênh chữ, vừa có ở kênh hình, vật mẫu thật và trong các thí nghiệm. Do đó, dạy học sinh học không chỉ có tranh ảnh, vật mẫu, mà còn phải tiến hành các thí nghiệm và thực hành. Nhưng với đa số các em học sinh, việc tiến hành thí nghiệm được xem là không cần thiết, các em nghĩ rằng chỉ cần học thuộc những gì ghi nhận trong lớp là xong. Tiến hành thí nghiệm vừa mất thời gian, vừa phải mang vào lớp, làm không thành công thì bạn chọc ghẹo. Không có thí nghiệm cô vẫn dạy được như thường và mình vẫn thuộc bài. Nên việc thực hiện yêu cầu của giáo viên, về chuẩn bị thí nghiệm học tập, thì nhiều học sinh chuẩn bị cho có hay để được điểm cộng và không bị thầy cô la rầy. Các em có thói quen tiến hành một cách qua loa, chiếu lệ như: thời gian tiến hành thí nghiệm không đủ, điều kiện thí nghiệm không đúng, vật mẫu thí nghiệm không đạt yêu cầu, … Các em chưa thật sự tích cực và có kỹ năng hoạt động theo nhóm, chưa quen với việc tự mình làm chủ, tiến hành thực nghiệm để tìm ra kiến thức, khắc sâu kiến thức cần nhớ. III/ Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề: 1. Biện pháp chung: – Học sinh chuẩn bị tốt thí nghiệm, tự mình thực hiện thí nghiệm, là cơ sở để hình thành và rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu khoa học cho các em, tạo điều kiện cần thiết cho học sinh khả năng tự giác học tập, biết tự tìm hiểu, phát hiện kiến thức. 2. Biện pháp cụ thể: * Giáo viên cần khuyến khích, động viên, kích thích óc tìm tòi, quan sát, tạo hứng thú trong việc chuẩn bị thí nghiệm cho tiết học bằng cách: * Yêu cầu học sinh nắm được các bước tiến hành và làm thành công một số thí nghiệm đơn giản trong chương trình học: thí nghiệm chứng minh sự dài ra của thân là do ngọn, thí nghiệm vận chuyển nước và muối khoáng nhờ mạch gỗ, thí nghiệm chứng minh có sự thoát hơi nước qua lá, chuẩn bị vật mẫu trong tìm hiểu các bộ phận của hạt, thí nghiệm về các điều kiện nảy mầm của hạt. Từ việc tiến hành thí nghiệm biết nhận xét kết quả và rút ra kết luận thông qua thí nghiệm à kiến thức cần tiếp thu. * Nêu cụ thể đối tượng thí nghiệm, mục đích thí nghiệm, thời gian thí nghiệm và các yêu cầu cần đạt được qua thí nghiệm. * Yêu cầu các em làm việc theo tổ, nhóm, nắm các bước tiến hành thí nghiệm, làm thí nghiệm và mang vào lớp các thí nghiệm đã thực hiện. * Giới thiệu nội dung tham khảo của SGK để học sinh vận dụng trong khi tự tiến hành thí nghiệm. * Giờ học giáo viên chú ý tối đa tới việc sử dụng có hiệu quả các thí nghiệm nhóm đã thực hiện, đưa thí nghiệm đúng lúc, để học sinh thấy được sự quan trọng của thí nghiệm cho bài học, tạo sự hứng thú, sinh động trong giờ học và giúp các học sinh khác nắm được kiến thức qua thí nghiệm. * Học sinh hoặc nhóm làm được thí nghiệm tốt, có giá trị trực quan tốt, giáo viên cần khen ngợi và động viên tinh thần tham gia tích cực trong giờ học của học sinh hay nhóm bằng cách ghi điểm cộng. Nhóm hay học sinh chưa làm tốt có có lưu ý cách làm, đối tượng hay thời gian tiến hành chưa đúng, giúp phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong giờ học và học sinh tự tin hơn, hứng thú hơn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học sinh học thực nghiệm. 3. Ứng dụng biện pháp trong giảng dạy: a) Đối với việc chuẩn bị thí nghiệm: Giáo viên lên kế hoạch tiết dạy, hướng thực hiện và các hoạt động cụ thể của học sinh trên lớp, các phiếu học tập, các tình huống sẽ đặt ra cho học sinh, thời gian cần để thực hiện thí nghiệm. Chuẩn bị trước các thí nghiệm cần cho bài dạy, các dụng cụ cần thiết cho việc thực hiện thí nghiệm, thời gian cần để thực hiện thí nghiệm, có tính đến các yếu tố thời tiết nếu là các thí nghiệm cần điều kiện bên ngoài như xem các bộ phận của hạt, điều kiện nảy mầm của hạt, Nếu là thí nghiệm do giáo viên biểu diễn cần chuẩn bị thêm một bộ dụng cụ để học sinh tiến hành các bước thí nghiệm trên lớp trong giờ học. Đặt yêu cầu cụ thể và phân công cho các nhóm học sinh thực hiện thí nghiệm. b) Trong giờ lên lớp: ï Đối với các thí nghiệm có sự tham gia của học sinh trong thực hiện thí nghiệm: – Kiểm tra việc thực hiện thí nghiệm của học sinh, ghi nhận nhanh kết quả thực hiện của các nhóm: nhóm làm tốt, nhóm làm chưa tốt. – Cho học sinh quan sát thí nghiệm giáo viên đã tiến hành à học sinh so sánh với kết quả nhóm đã thực hiện. – Cho 1 – 2 nhóm học sinh trình bày các bước tiến hành thí nghiệm trên cơ sở nhóm đã thực hiện, nêu kết quả thu được, các nhóm nhận xét bổ sung. – Giáo viên nêu nhận xét tóm tắt các bước chủ yếu trong quá trình tiến hành làm thí nghiệm, nhận xét kết quả thí nghiệm của các nhóm, khen ngợi nhóm làm tốt, hỏi về nguyên nhân thí nghiệm chưa thành công, giải thích cụ thể trên từng thí nghiệm hỏng và rút kinh nghiệm chung cho cả lớp. Ví dụ: cụ thể trong giảng dạy bài 17: “Vận chuyển các chất trong thân” – Phần 1: Vận chuyển nước và muối khoáng hòa tan. Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh + GV sau khi kiểm tra và ghi nhận sơ lược kết quả thí nghiệm của các nhóm. Yêu cầu nhóm trình bày thí nghiệm đã tiến hành trước ở nhà chọn những nhóm nào có kết quả tốt. + GV cho HS cả lớp xem thí nghiệm trên cành mang hoa (cành hoa hồng), cành mang lá (cành dâu). Hỏi: Vì cần thực hiện thí nghiệm trên cả cành hoa hồng và cành dâu? + GV hướng dẫn HS cắt lát mỏng qua cành của nhóm ® quan sát bằng kính lúp (kính hiển vi) ® xác định chỗ bị nhuộm màu à Vì sao có sự khác nhau giữa nơi bị nhuộm màu ở cành hoa hồng và cành hoa huệ? à sự khác nhau về cách sắp xếp bó mạch của thân cây 1 và hai lá mầm. à Phần nào của thân đã bị nhuộm màu ? Vì sao em biết? à Vậy nước và muối khoáng được vận chuyển từ rễ lên thân, lá nhờ bộ phận nào của cây? + GV nhận xét, đánh giá cho điểm nhóm trả lời tốt. * GV nêu nhận xét về kết quả thí nghiệm của nhóm làm tốt, làm chưa tốt, cho h/s tự giải thích nguyên nhân à tóm tắt ý chính của hoạt động à kết luận. + HS hoạt động theo nhóm, đại diện nhóm trình bày trước lớp các bước tiến hành TN và kết quả thực hiện của nhóm mình. – Nhóm khác nhận xét bổ sung. – Quan sát. à chứng minh có sự vận chuyển các chất trong thân lên hoa và lá. + H/s cắt lát mỏng ngang cành cả hoa huệ và cành hoa hồng, xem xét nơi bị nhuộm màu. à Nêu nhận xét. – Đại diện 1 ® 2 nhóm trình bày kết quả của nhóm mình, nhóm khác bổ sung. ï Đối với các thí nghiệm do giáo viên tiến hành mẫu, học sinh chỉ dựa trên quan sát để thu nhận kiến thức. _ Cho học sinh trình bày các bước tiến hành thí nghiệm thông qua các dụng cụ được giáo viên chuẩn bị sẵn à rèn kỹ năng thực hành thí nghiệm. Ví dụ: giảng dạy thí nghiệm 1 bài 23 : ” Cây có hô hấp không?”, chứng minh hiện tượng cây thải ra môi trường khí cácbonic. Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh . Thí nghiệm 1 (tr. 77, SGK) : + Cho 1 h/s đọc thông tin < . + Sau khi h/s đọc xong, GV hỏi : Khi để cốc nước vôi trong trong không khí có lớp váng trắng đục mỏng, vì sao? + Cho h/s gạch dưới các từ sau : “ Cốc nước vôi trong để một thời gian, có lớp váng trắng đục mỏng vì trong không khí có khí cacbônic” à chính khí cacbônic làm cho cốc nước vôi trong có váng trắng đục mỏng, điều đó diễn ra như thế nào các em sẽ được học ở chương trình hóa học sau này. + Yêu cầu h/s đđọc thí nghiệm 1 ® nắm cách tiến hành, kết quả của thí nghiệm. à Cho h/s nêu các bước tiến hành thí nghiệm thông qua dụng cụ được giáo viên chuẩn bị sẵn: 2 chuông A, B; 2 tấm kính ướt; 2 cốc nước vôi trong; 1 cây nhỏ trồng trong cốc; 2 túi giấy đen. + Cho một số học sinh quan sát kết quả thí nghiệm 1. Không khí trong hai chuông có chất khí gì? Vì sao em biết? Vì sao trên mặt cốc nước vôi trong chuông A có lớp váng trắng đục dầy hơn? Từ kết quả thí nghiệm 1 ta có thể rút ra được kết luận gì? GV hoàn thiện đáp án à tiểu kết. è Khi không có ánh sáng, cây đã thải ra nhiều khí cácbônic. + HS đọc thông tin < SGK tr.77. + Trả lời câu hỏi. + H/s thực hiện theo yêu cầu của giáo viên. + Quan sát hình 23.1, đọc thí nghiệm tìm hiểu về chuẩn bị, cách tiến hành, kết quả. à H/s thực hiện và nêu các bước tiến hành thí nghiệm thông qua dụng cụ có sẵn. + H/s quan sát kết quả thí nghiệm mà g/v đã thực hiện. Không khí trong hai chuông đều có khí cacbônic, vì trên mặt cốc nước vôi trong 2 chuông đều có lớp váng trắng đục. Lớp váng trắng trên mặt cốc nước vôi trong chuông A dày hơn vì trong chuông có nhiều khí cacbônic hơn. Cây đã thải ra nhiều khí cácbônic. IV/- Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: Về phía Giáo viên: Vận dụng tốt hơn phương pháp đặc trưng bộ môn vào giảng dạy và giúp được cho học sinh phát triển tư duy từ thực hành, thí nghiệm (trực quan cụ thể) à khái quát hóa các kiến thức cần nhớ và ghi nhận trong học tập, từ đó biết vận dụng vào giải thích các hiện tượng và ứng dụng trong thực tế cuộc sống. Về phía Học sinh: Hứng thú trong việc chuẩn bị các thí nghiệm và trong khi tham gia thực hiện thí nghiệm, các em nắm được các bước tiến hành, đối tượng thí nghiệm, trên cơ sở đó tìm hiểu mục đích thí nghiệm đồng thời dựa vào kết quả, suy nghĩ đến nội dung kiến thức cần thu nhận. Trong quá trình thực hiện đa số học sinh các lớp dạy dựa trên cơ sở quan sát và trực tiếp làm thí nghiệm, các em đều nắm được các bước tiến hành và biết rút ra kết luận từ thực tế. So sánh giữa các lớp nếu lớp các nhóm đều làm thí nghiệm, có sự so sánh giữa các nhóm thì học sinh không quên cách làm thí nghiệm cũng như ghi nhớ tốt, lớp không làm thí nghiệm mà chỉ quan sát thí nghiệm GV hay hình ảnh SGK thì khả năng ghi nhớ của các em kém hơn. – Kết quả đạt được: Chất lượng Giỏi Khá Trung bình Yếu – Kém Năm học 2009 – 2010 225/319 70,5% 69/319 21,6% 21/319 6,6% 5/319 1,3% Năm học 2010 – 2011 137/176 77,8% 34/176 19,3% 6/176 1,8% 2/176 1,1% Học kỳ I năm học 2011 – 2012 253/315 80,3% 41/315 13% 16/315 5,1% 5/315 1,6% PHẦN III : KẾT LUẬN I/- Những bài học kinh nghiệm: Qua quá trình giảng dạy, vận dụng đề tài “Một vài kinh nghiệm trong giảng dạy thí nghiệm chương trình sinh học 6”, bản thân rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau: Tâm lý học sinh cấp THCS, nhất là học sinh lớp 6 các em thay đổi môi trường mới, dù chững chạc hơn nhưng các em còn rất hiếu động, mặt khác việc học tập, ghi nhớ vẫn còn thiếu trình tự. Để các em nắm kiến thức được tốt, cần có các phương pháp giảng dạy phù hợp lứa tuổi và tâm sinh lý các em, cụ thể là thông qua trực quan trên cơ sở quan sát, thực hiện để thu nhận kiến thức. Trong quá trình thực hiện, GV dễ dàng vận dụng phương pháp dạy học mới vào giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học, kích thích học sinh tham gia tích cực trong giờ học, đồng thời biết cách nghiên cứu khoa học thông qua thực hiện thí nghiệm, rèn kỹ năng thí nghiệm thực hành. Mặt khác để giờ học có hiệu quả thì khâu chuẩn bị của giáo viên và học sinh là điều không thể xem nhẹ. Giáo viên cần có kế hoạch cụ thể cho việc chuẩn bị của học sinh, yêu cầu học sinh ghi nhận để thực hiện, thời gian cần thiết để thực hiện. Bản thân giáo viên cũng phải nghiêm túc trong việc làm thí nghiệm mẫu, nghiên cứu các phương cách biện pháp để lôi kéo thu hút các em hoạt động tích cực trong học tập, trong việc tìm tòi nghiên cứu tự nhiên. Trong giờ học phải làm sao cho học sinh chú ý, tích cực tìm hiểu nghiên cứu khoa học, ghi nhận, khen ngợi các học sinh tích cực trong hoạt động, phê bình học sinh chưa nghiêm túc và hướng các em vào hoạt động chung của lớp. Ghi điểm cho nhóm hoặc cá nhân tích cực và thực hiện tốt thí nghiệm có kết quả tốt hoặc kết quả có các tình huống cần khai thác. Ví dụ khi dạy bài “Những điều kiện cần cho hạt nảy mầm” khi đối chiếu giữa thí nghiệm của giáo viên – học sinh hoặc học sinh – học sinh, có những thí nghiệm kết quả không giống với kết quả giáo viên hoặc đa số nhóm thực hiện, điều đó tạo nên tình huống cần giải quyết và đặt ra câu hỏi cho học sinh suy nghĩ. Như thí nghiệm 2 tìm hiểu về ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự nảy mầm của hạt, có nhóm sau khi thực hiện theo hướng dẫn, kết quả tất cả các hạt đều nảy mầm và nảy mầm rất đẹp, vậy nguyên nhân do đâu à các em đã chưa tuân thủ nghiêm các yêu cầu đặt ra trong thí nghiệm à ảnh hưởng đến kết quả. Những thiếu sót đó giúp các em nhận ra cần cẩn thận trong tiến hành và thực hiện chính xác các yêu cầu mới thu được kết quả như mong muốn. Điều đó cũng cho thấy khi hướng dẫn học sinh thực hiện cần nhấn mạnh các yêu cầu cụ thể để thực hiện thí nghiệm tốt, có kết quả như mong muốn. II/- Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm: Dạy học Sinh học nhất là giảng dạy các thí nghiệm là một vấn đề tương đối khó, do điều kiện cơ sở vật chất, do ảnh hưởng của môi trường dẫn tới thí nghiệm đôi khi không đạt kết quả mong muốn, chính vì lẽ đó bản thân luôn cố gắng bằng tất cả khả năng có được để đầu tư, nghiên cứu, lựa chọn phương pháp dạy học hợp lý vào từng bài có thí nghiệm, từng hoạt động dạy học trong bài, giúp các em tự nguyện, tự giác và hứng thú học thật tốt môn Sinh học 6, tham gia tích cực trong giờ học, nắm chắc được mục đích, đối tượng nghiên cứu và kiến thức cần lĩnh hội qua tư duy thực nghiệm khoa học. Đồng thời dạy các thí nghiệm hay thực hành sinh học có thể dễ dàng vận dụng phương pháp dạy học mới thông qua việc chuẩn bị của học sinh, việc tham gia thực hiện thí nghiệm, thực hành và học tập tích cực trong giờ học, giúp phát triển tư duy thực nghiệm, đồng thời phát triển kỹ năng thực hành, thí nghiệm đáp ứng yêu cầu đổi mới quá trình dạy-học, học đi đôi với hành. Giúp giáo viên luôn chủ động, sáng tạo trong vai trò người hướng dẫn các em học tập. Giáo viên luôn có nhu cầu đòi hỏi phải cập nhật kiến thức, tự học, tự rèn, ứng dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp từng loại bài. Luôn học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp và tận tâm trong hướng dẫn, giúp đỡ các em học sinh học tập. Giúp học sinh tự tin vào bản thân, tự mình tìm ra con đường đi tới kiến thức. Bồi dưỡng năng lực tự học, lòng yêu thích tự nhiên, môn học, vận dụng kiến thức vào thực tế đời sống. Giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. III/- Khả năng ứng dụng triển khai: Đề tài nghiên cứu cũng có thể được ứng dụng và triển khai trong chương trình sinh học 8, đối với những bài có thí nghiệm. Để hoàn thành đề tài, bản thân cũng chân thành cảm ơn ý kiến đóng góp chân tình của quí thầy, cô đồng nghiệp tổ Hóa Sinh trường THCS Thành Phố Bến Tre. Bến Tre, ngày 28 tháng 01 năm 2012 Người viết Ngô Thị Minh Hiền TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách giáo khoa Sinh học 6 – Nhà xuất bản giáo dục. 2. Sách giáo viên Sinh học 6 – Nhà xuất bản giáo dục. 3. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III Môn Sinh học (2004 – 2007) – Nhà xuất bản giáo dục. 4. Hướng dẫn số 24/HD-SGD&ĐT ngày 31 tháng 8 năm 2009 của Sở Giáo dục và Đào tạo Bến Tre về tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá SKKN 5. Dạy môn Sinh học 6 theo chương trình THCS mới. 6. Sách thiết kế bài giảng sinh học 6. 7. Sách thực hành sinh học 6. MỤC LỤC Trang Phần mở đầu I / Bối cảnh của đề tài 2 II/ Lí do chọn đề tài 2 III/ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2 IV/ Mục đích nghiên cứu 3 V/ Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 3 Phần nội dung I/ Cơ sở lý luận 3 II/ Thực trạng của vấn đề 3 III/ Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề 4 IV/ Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm 8 Phần kết luận I/ Những bài học kinh nghiệm 9 II/ Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 10 III/ Khả năng ứng dụng triển khai 11

Giáo Án Môn Đại Số 11

– HS nắm được phương pháp quy nạp toán học.

-Bước đầu vận dụng được phương pháp quy nạp toán học vào giải các bài toán trong SGK

3.Về tư duy thái độ:

– Biết toán học có ứng dụng trong thực tiễn

– Rèn luyện tư duy lôgíc.

II- Chuẩn bị của GV và HS

1.GV: chuẩn bị 1 số ví dụ để làm tại lớp

2.HS: Đọc trước bài mới ở nhà.

III-Phương pháp giảng dạy:

– Sử dụng phương pháp : Nêu vấn đề, vấn đáp – gợi mở .

IV-Tiến trình bài dạy:

Ngày soạn: .. Tiết: 37 Chương III : dãy số . cấp số cộng và cấp số nhân Đ1: Phương pháp quy nạp toán học I- Mục tiêu: 1.Về kiến thức: - HS nắm được phương pháp quy nạp toán học. 2. Về kĩ năng: -Bước đầu vận dụng được phương pháp quy nạp toán học vào giải các bài toán trong SGK 3.Về tư duy thái độ: - Biết toán học có ứng dụng trong thực tiễn - Rèn luyện tư duy lôgíc. II- Chuẩn bị của GV và HS 1.GV: chuẩn bị 1 số ví dụ để làm tại lớp 2.HS: Đọc trước bài mới ở nhà. III-Phương pháp giảng dạy: Sử dụng phương pháp : Nêu vấn đề, vấn đáp - gợi mở . IV-Tiến trình bài dạy: 1.ổn định tổ chức lớp 2. Bài mới: Hoạt động của GV và HS Nội dung HĐ1: -GV: Xét 2 mệnh đề chứa biến P(n): "3n n" với n ẻN* a,Với n = 1, 2, 3, 4, 5 thì P(n) và Q(n) đúng hay sai? b, Với mọi n ẻN* thì P(n) và Q(n) đúng hay sai? -HS: suy nghĩ và trả lời -HS: kết hợp xem SKG trả lời. -GV: Nêu VD1 -HS: áp dụng làm -GV: với n = 1, VT = ?, VP = ? -GV: Nêu giả thiết quy nạp? -GV: Dùng giả thiết quy nạp -GV: Nêu HĐ2 -HS: áp dụng làm -GV: với n = 1, VT = ?, VP = ? -GV: Nêu giả thiết quy nạp? -GV: Dùng giả thiết quy nạp -GV: Nêu VD2 -HS: áp dụng làm -GV: với n = 1, VT = ?, VP = ? -GV: Nêu giả thiết quy nạp? -GV: Dùng giả thiết quy nạp -GV: Nếu phải chứng minh mệnh đề là đúng với mọi số tự nhiên n ³ p ta làm thế nào? -HS: Trả lời I, Phương pháp quy nạp toán học HĐ1: a, Với n = 1, 2, 3, 4, 5 thì P(n) sai, Q(n) đúng. b, Với mọi n ẻN* thì P(n) sai, Q(n) đúng. Bước 1: Kiểm tra rằng mệnh đề đúng với n = 1. Bước 2: Giả thiết mệnh đề đúng với một số tự nhiên bất kì n = k ³ 1(gọi là giả thiết quy nạp), chứng minh rằng nó cũng đúng với n = k + 1. Đó là phương pháp quy nạp toán học, hay gọi tắt là phương pháp quy nạp. II, Ví dụ áp dụng VD1: CMR: với n ẻN* thì 1 + 3 + 5 +...+ 2n - 1 = n2 (1) Giải: -Bước 1: với n = 1, VT = 1, VP = 1 -Bước 2: Giả sử (1) đúng với n = k ³ 1, tức là: 1 + 3 + 5 +...+ 2k - 1 = k2 (giả thiết quy nạp). Ta phải CM (1) cũng đúng với n = k + 1, tức là: 1 + 3 + 5 +...+ 2k +1 +[2(k+1)-1] = (k+1)2 Thật vậy, theo giả thiết quy nạp ta có: 1 + 3 + 5 +...+ 2k -1 +[2(k+1)-1] = k2 + [2(k+1)-1] = k2 + 2k + 1 = (k+1)2 (đpcm) Vậy: (1) đúng với n ẻN*. HĐ2: CMR: với n ẻN* thì 1 + 2 + 3 +...+ n = (2) Giải: -Bước 1: với n = 1, VT = 1, VP = 1 -Bước 2: Giả sử (2) đúng với n = k ³ 1, tức là: 1 + 2 + 3 +...+ k = (giả thiết quy nạp). Ta phải CM (2) cũng đúng với n = k + 1, tức là: 1 + 2 + 3 ++ k + (k + 1) = Thật vậy, theo giả thiết quy nạp ta có: 1 + 2 + 3 +...+ k + (k + 1) = + (k + 1) = = (đpcm) Vậy: (2) đúng với n ẻN*. VD2: CMR: với n ẻN* thì n3 - n chia hết cho 3 (3) Giải: -Bước 2: Giả sử (3) đúng với n = k ³ 1, tức là: k3 - k 3. Ta phải CM (3) cũng đúng với n = k + 1, tức là: (k+1)3 - (k+1) 3 Thật vậy, ta có: (k+1)3 - (k+1) = k3 + 3k2 + 3k + 1 - k -1 = k3 - k + 3k2 + 3k = (k3 - k) + 3(k2 + k) 3 Theo giả thiết quy nạp k3 - k 3; hơn nữa: 3(k2 + k) 3 Vậy n3 - n chia hết cho 3 với n ẻN* *Chú ý: Nếu phải chứng minh mệnh đề là đúng với mọi số tự nhiên n ³ p (p là 1 số tự nhiên) thì: -ở bước 1, ta kiểm tra mệnh đề đúng với n = p -ở bước 2, ta giả thiết mệnh đề đúng với n = k ³ p và phải chứng minh nó cũng đúng với n = k + 1. *Củng cố - dặn dò: -Nắm chắc phương pháp quy nạp toán học. -Xem lại các ví dụ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Soạn Giáo Án Tích Hợp Trong Môn Tiếng Anh Cấp Thcs trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!