Xu Hướng 2/2023 # Cách Thực Hiện Phương Pháp Cấp Cứu Heimlich # Top 5 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Cách Thực Hiện Phương Pháp Cấp Cứu Heimlich # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Cách Thực Hiện Phương Pháp Cấp Cứu Heimlich được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Mắc nghẹn là tình trạng đường thở bị một dị vật chặn lại làm cản trở hô hấp. Khi đó, nạn nhân thường tử vong rất nhanh do thiếu oxy. Đa phần những trường hợp tử vong là do không được cấp cứu đúng cách bằng phương pháp Heimlich.

1. Nhận biết nạn nhân bị mắc nghẹn

Thông thường, bệnh nhân bị mắc nghẹn không thể nói được nên rất khó thông báo cho người khác biết tình trạng khẩn cấp của mình. Vì thế, khi người thân của bạn có những dâu hiệu sau đây thì rất có thể họ đã bị mắc nghẹn:

– Cố gắng nôn để đẩy dị vật ra.

– Hốt hoảng và có khuynh hướng lấy hai bàn tay nắm lấy cổ họng như đang ra hiệu cho người khác.

– Đôi khi có thể thở khò khè hoặc kêu cục cục như tiếng gà.

– Khuôn mặt tái xanh vì thiếu oxy, có thể lả đi.

2. Phương pháp Heimlich là gì?

Ở giữa phần bụng và phần ngực của con người có một cơ nằm ngang gọi là cơ hoành. Đây là cơ quan trọng nhất trong động tác hô hấp. Phương pháp Heimlich là phương pháp làm cho cơ hoành đẩy mạnh lên khiến cho dị vật thoát ra khỏi đường thở của nạn nhân, giúp cho họ thở lại được.

3. Cách tiến hành phương pháp Heimlich

Khi nạn nhân bị mắc nghẹn, bạn hãy tiến hành các bước sau đây của phương pháp Heimlich.

– Tiến lại phía sau nạn nhân.

– Ôm lấy nạn nhân ở ngay phía dưới xương sườn, không ôm vào xương sườn.

– Đặt một tay ngay trên rốn nạn nhân, nắm lại, ngón tay cái quay vào trong.

– Bàn tay kia nắm chắc lấy bàn tay đã đặt trên rốn.

– Dùng cả hai tay, xốc mạnh nạn nhân về hướng của bạn và lên trên. Mỗi lần làm như vậy phải thật mạnh và dứt khoát. Không nên nhát tay vì bạn đang cố để đưa dị vật ra. Đối với trẻ em thì nên làm nhẹ hơn để tránh tổn thương.

– Xốc liên tục 5 lần.

– Làm như vậy cho đến khi nạn nhân ho làm bật vật nghẹn ra.

– Nếu chưa được, xốc thêm 5 lần nữa.

Trường hợp nạn nhân bất tỉnh trước khi vật nghẹn được tống ra. Đặt ngửa nạn nhân xuống, nâng cổ và đầu nạn nhân, cằm nâng lên và đầu ngửa ra sau để thông thoáng đường thở. Nếu làm cho bệnh nhân thở lại được có thể làm lại phương pháp Heimlich, nếu không phải gọi cấp cứu.

Lưu ý: Phương pháp này không áp dụng cho người hôn mê và trẻ em dưới 1 tuổi.

Nghiệm Pháp Heimlich Là Gì ? Hướng Dẫn Cách Sơ Cứu Học Di Vật

Heimlich là gì ?

Heimlich là tên của bác sĩ người Mỹ Henry J. Heimlich người phát minh ra thủ thuật sơ cứu hóc dị vật đường thở do đó người ta lấy tên của ông đặt cho thủ thuật này là Heimlich.

Henry Judah Heimlich là một bác sĩ phẫu thuật lồng ngực và nhà nghiên cứu y khoa người Mỹ. Ông được công nhận rộng rãi là người phát minh ra thao tác Heimlich, một kỹ thuật đẩy bụng để ngừng nghẹt thở, được mô tả trong Cấp cứu năm 1974.

Nghiệm pháp Heimlich từ hoài nghi đến phổ biến

Heimlich lần đầu được áp dụng sau đó 42 năm.

Dù phát minh ra thủ thuật này như mãi 42 năm sau vị bác sĩ này mới có cơ hội áp dụng đó là tại một bữa ăn ở nhà dưỡng lão TP Cincinnati quy tụ 125 người. Trong khi ăn hamburger, cụ bà Patty Ris, 87 tuổi, đột nhiên ú ớ, không nói được, mặt tái xanh.

Nhìn cảnh đó, bác sĩ Heimlich biết ngay chuyện gì,Ông tiến đến phía sau ghế ngồi nạn nhân, đặt hai nắm tay lên vùng bụng giữa rốn và xương ức, giật mạnh từ trước ra sau ba lần để ép khí trong phổi. Ngay lập tức một miếng thịt có dính mẩu xương nhỏ từ miệng nạn nhân rơi ra và nạn nhân thở lại dễ dàng.

Thủ thuật Heimlich cũng đã cứu sống nhiều nhân vật nổi tiếng trong đó có cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, ngôi sao nhạc pop Cher, cựu thị trưởng TP New York Edward Koch và các ngôi sao Hollywood như Elizabeth Taylor, Goldie Hawn, Walter Matthau, Carrie Fisher, Jack Lemmon hay Marlene Dietrich. Năm 2014, diễn viên Clint Eastwood áp dụng thành công thủ thuật Heimlich để cứu một giám đốc giải golf ở California khi ông này hóc một mẩu phó mát!

Sinh ngày 3/2/1920, vào đầu những năm 1960, phát minh thiết bị dẫn lưu dịch từ vết thương ngực hở của bác sĩ Heimlich lại được công nhận. Từng là người lính tham gia chiến đấu ở nhiều mặt trận, nên Hemlich nhận thấy cần có một giải pháp tốt hơn để dẫn lưu dịch từ vết thương ra ngoài thay cho cách làm cũ, dùng một cái chai dẫn lưu có bơm hút.

Chiếc van đó được đặt tên là van Heimlich, từng được dùng rộng rãi trong cuộc chiến Việt Nam cứu sống nhiều binh sĩ Mỹ và trong các ca phẫu thuật ngực dân sự ngoài đời. Có năm nhà sản xuất đã bán được 250.000 van Heimlich trên toàn thế giới.

Heimlich ra đời trong sự hoài nghi

Ngày nay có lẽ bất kỳ một bác sĩ nào trên thế giới cũng biết áp dụng thủ thuật Heimlich để sơ cứu người hóc dị vật đường thở, nhưng mấy người biết rằng trong những năm đầu tiên sau khi ra đời, thủ thuật này nhận được không ít chỉ trích và nghi ngờ.

Thật vậy lúc đầu nhiều người chỉ trích phương pháp của Heimlich là phản khoa học, không an toàn cho nạn nhân vì có thể gây ra những tổn thương bên trong hoặc gãy xương do ép mạnh, thậm chí có người cho rằng phương pháp quá khó, người bình thường không làm được mà chỉ dành cho nhân viên y tế.

Tuy nhiên cuộc sống cần một biện pháp để giải quyết vấn đề cấp bách. Vào những năm 1970, tại Mỹ hóc dị vật (thức ăn, đồ chơi nhỏ) là nguyên nhân đứng hàng thứ sáu gây chết người. Ước tính mỗi năm có 4.000 vụ chết người vì tai nạn này, đa phần là trẻ con.

Chỉ cần một vật lạ rơi vào đường thở là bệnh nhân không nói, không thở được không khác gì lên cơn nhồi máu cơ tim. Trong vòng 4 phút tiếp theo, nếu dị vật không lấy ra được, não thiếu oxy dẫn đến những tổn thương không hồi phục và cái chết cũng xảy ra ngay lập tức.

Trong hoàn cảnh đó, bác sĩ Heimlich tin rằng chỉ cần tạo một áp lực đột ngột lên cơ hoành, phổi bị ép lại và đẩy khí bên trong ra cùng với dị vật. Bài báo của ông đăng trên tạp chí The Journal of Emergency Medicine, một người đàn ông ở bang Washington áp dụng và cứu sống được người hàng xóm.

Sau trường hợp này là vô số trường hợp thành công khác chứng thực thủ thuật Heimlich hiệu quả và cũng không ai biết được có bao nhiêu người hóc dị vật đường thở đã được cứu sống trên toàn thế giới, chỉ biết một điều là từ khi có thủ thuật này số vụ chết người do hóc dị vật đã giảm rõ. Năm 1975, hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ công nhận phương pháp này và đặt tên nó là thủ thuật Heimlich, ghi nhận nhờ nó mà vô số người được cứu sống mỗi năm.

Năm 1984, bác sĩ Heimlich được trao giải Albert Lasker Public Service, một trong những giải thưởng khoa học danh giá nhất Hoa Kỳ, vì tìm ra được “một giải pháp đơn giản, thực tiễn, không tốn kém để cấp cứu những trường hợp đe doạ tính mạng mà không đòi hỏi nhiều nỗ lực, dụng cụ đặc biệt hay khoá huấn luyện nào”.

Cách thực hiện nghiệm pháp Heimlich

Có 4 cách để thực hiện nghiệm pháp Heimlich tùy thuộc vào tuổi tác cũng như tình trạng của người bị nghẹt thở mà áp dụng . Cơ chế thì hoàn toàn là giống nhau sử dụng lực tại cơ hoành để buộc dị vật tống xuất ra khỏi cổ họng.

Người lớn hoặc trẻ em có ý thức

Nếu người lớn hoặc trẻ em trên 1 tuổi có ý thức nhưng không thể nói, ho hoặc thở, thực hiện nghiệm pháp Heimlich ngay lập tức, làm theo các bước sau:

Đứng đằng sau người đang nghẹt thở, cánh tay quấn quanh eo của họ.

Nắm một tay lại. Sau đó đặt vị trí của ngón tay cái vào dạ dày của nạn nhân, bên dưới xương sườn và phía trên rốn. Tại đây bạn có thể cảm nhận thấy cơ hoành.

Đặt bàn tay kia lên nắm tay và đẩy vào cơ này với một lực mạnh, vào trong và hướng lên trên.

Tiếp tục đẩy cho đến khi dị vật được tống ra.

Người lớn hoặc trẻ không có ý thức

Nếu trẻ hoặc người lớn bất tỉnh hoặc không thể ngồi hoặc đứng, hãy thực hiện các bước sau:

Đặt người bị nghẹt thở trên một mặt phẳng cứng

Ngồi trên đùi người bị nạn, mặt hướng về phía họ

Đặt tay này lên tay kia, và sau đó đặt cạnh lòng bàn tay lên cơ hoành của họ, ngay dưới xương sườn của họ và phía trên rốn.

Đẩy tay theo hướng đẩy vào và lên trên, tay này tựa vào tay kia.

Tiếp tục lặp đi lặp lại cho đến khi dị vật bị tống ra.

Thực hiện nghiệm pháp Heimlich lên chính bản thân bạn

Nếu bạn bị nghẹt thở do dị vật trong khi chỉ có một mình, hoặc không có ai để giúp đỡ, hãy làm như sau:

Nắm một tay lại, và với ngón tay cái hướng vào trong, đặt tại vị trí cơ hoành – dưới xương sườn và phía trên rốn.

Đẩy theo hướng đi vào và lên trên cho đến khi dị vật bị trục xuất.

Nếu không thể làm được nghiệm pháp này hoặc không hiệu quả trên một vật thể rắn, như trên bàn hoặc ghế. Đặt tay cạnh bờ cơ hoành để đẩy vào và lên trên. Di chuyển trước sau để tạo ra lực đẩy.

Lặp lại cho đến khi dị vật bị tống ra ngoài.

Cách thực hiện nghiệm pháp Heimlich cho sơ sinh dưới 1 tuổi

Ở trẻ dưới 1 tuổi, hãy làm theo các bước sau

Đặt bé nằm trên cẳng tay, đảm bảo đầu bé thấp hơn ngực.

Đặt cẳng tay trên đùi, hỗ trợ đầu của em bé bằng cẳng tay.

Đảm bảo rằng miệng và mũi em bé không bị che lấp.

Sử dụng cạnh lòng bàn tay kia đánh vào lưng của em bé giữa hai vai bốn lần. Lặp lại cho đến khi dị vật xuất hiện.

Nếu không thành công, xoay em bé lại. Đặt hai ngón tay giữa ngực của bé, giữa núm vú. Nhấn mạnh bốn lần xuống độ sâu khoảng 1 inch. Lặp lại cho đến khi dị vật xuất hiện.

Liệu nghiệm pháp Heimlich có tốt hơn các phương pháp khác không?

Mặc dù nghiệm pháp Heimlich đã thay thế những phương pháp đánh vào lưng và ngực trong hầu hết các tình huống, nhưng một số trường hợp cấp cứu vẫn sử dụng những phương pháp cũ khi nghiệm pháp Heimlich thất bại.

Một nghiên cứu năm 1976 so sánh các cú đẩy bụng kiểu Heimlich với phương pháp đẩy ngực, họ thấy rằng nghiệm pháp đẩy ngực hiệu quả hơn. Nhưng với cỡ mẫu rất nhỏ, chỉ có khoảng 6 người vì vậy kết quả nghiên cứu này không nên xem như là bằng chứng thuyết phục rằng nghiệm pháp đẩy ngực là tốt hơn.

Cách để thực hành thuần thục nghiệm pháp Heimlich

Không thể thực hiện nghiệm pháp Heimlich trên một người không bị nghẹt thở.

Tuy nhiên, vì kỹ thuật của nghiệm pháp là ấn vào cơ hoành, bạn có thể làm quen với thủ thuật bằng cách định vị cơ hoành và tập cảm nhận một dải cơ dày ngay bên dưới khung sườn.

Đẩy mạnh vào cơ này sẽ tạo ra một cảm giác rùng mình, qua đó đẩy không khí ra khỏi lồng ngực.

Thực hành nghiệm pháp này thường xuyên sẽ giúp bạn xử trí tự tin hơn khi gặp phải tình huống cấp cứu người nghẹt thở do hóc dị vật.

Sự an toàn của nghiệm pháp Heimlich

Nếu một người có thể ho, nói chuyện, thở, tức là họ không bị nghẹt thở. Lúc đó đợi cho họ ho ra dị vật. Chỉ thực hiện nghiệm pháp Heimlich nếu người đó không thể đánh bật dị vật và không thể thở được.

Nghiệm pháp Heimlich không thể cứu sống các nạn nhân chết đuối, hoặc các trường hợp khẩn cấp khác, chẳng hạn như ngừng tim hoặc động kinh.

Kết :

Đôi khi nghiệm pháp Heimlich thất bại, bởi dị vật đã nằm quá sâu trong cổ họng hoặc do không thực hiện đúng cách. Vì vậy, luôn luôn gọi cấp cứu ngay khi có nạn nhân bị nghẹt thở.

Nếu có hai người, một người sẽ gọi cấp cứu trong khi người kia thực hiện nghiệm pháp Heimlich. Thực hiện điều này sẽ giúp nâng cao tối đa cơ hội sống sót cho nạn nhân, ngay cả khi nghiệm pháp Heimlich không có thất bại.

Nguồn : https://www.medicalnewstoday.com/

Các Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Tiễn

nguồn:http://phuongphapnghiencuukhoahoc.com/cac-phuong-phap-nghien-cuu-thuc-tien/

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn là các phương pháp trực tiếp tác động vào đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của đối tượng đó, giúp người nghiên cứu thu thập thông tin hoặc làm nảy sinh các ý tưởng nghiên cứu và đề xuất sáng tạo.

Tóm lại, quan sát là phương pháp nghiên cứu khoa học quan trọng, cần phải phối hợp với các phương pháp khác để đạt tới trình độ nhận thức bản chất bên trong của đối tượng.

– Quan sát có ưu điểm là giữ được tính tự nhiên (khách quan của các sự kiện,hiện tượng và biểu hiện tâm lý con người, cung cấp số liệu sống động, cụ thể, phong phú, quan sát được thực hiện khá đơn giản, không tốn kém. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của quan sát là: người quan sát đóng vai trò thụ động, phải chờ đợi các hiện tượng diễn ra, không chủ động làm chúng diễn ra theo ý muốn được, khó khăn trong việc đánh giá sự tồn tại của những điều kiện nảy sinh các hiện tượng, sự kiện và do đó khó tách các mối liên hệ nhân quả.

+ Phương pháp khái quát hóa các nhận xét độc lập (phương pháp nhận định độc lập) cũng là dòng họ của quan sát, vì các nhận định độc lập được xây dựng từ quan sát trong các hiện tượng khác nhau (ví dụ: quan sát trực tiếp học sinh – sinh viên trong giờ học khi dự giờ để tìm hiểu phong cách, thái độ học tập, hứng thú đối với môn học và tích cực học tập của học sinh). Khái quát nhận xét riêng của từng giáo viên về một học sinh để nghiên cứu đặc điểm nhân cách của em đó.

+ Phương pháp phân tích các sản phẩm hoạt động: Trường hợp nghiên cứu đối tượng (là người) chỉ thông qua sản phẩm của nó…. Thực chất thì chính các quá trình tâm lý được “vật hóa” trong các sản phẩm hoạt động – đó là đối tượng nghiên cứu (Ví dụ: nghiên cứu tâm lý trẻ em thông qua bức tranh em vẽ, bài thơ do em làm, bài tập do em thể hiện……)

+ Phải ghi lại kết quả (biên bản) quan sát: ghi lại sự kiện, điều kiện, hoàn cảnh diễn ra sự kiện. Chỉ có ghi lại mới đảm bảo được tính lâu dài và có hệ thống: nhờ đó mới thiết lập được mối quan hệ, liên hệ bản chất điển hình của những biểu hiện của hiện tượng, sự kiện hay tâm lý khác nhau, có thể ghi lại bằng máy ảnh, camera, quay phim, ghi âm, hay bằng tốc ký, biên bản quan sát.v.v…

+ Xác định rõ ràng mục đích, nhiệm vụ quan sát, từ đó phải xây dựng kế hoạch quan sát trong suốt quá trình nghiên cứu và chương trình của từng buổi quan sát. Điều quan trọng là xác định quan sát toàn bộ hay chọn lọc, từ đó mới ghi lại tấtcả cái gì mắt thấy tai nghe hay một mặt nào đó. Không có chương trình, kế hoạch thì tài liệu thu thập được khó tin cậy, không loại trừ được các nhân tố ngẫu nhiên.

+ Xác định rõ đối tượng quan sát. Quan sát phải được tiến hành trong điều kiện tự nhiên của hoạt động: người được quan sát không biết mình đang bị quan sát, người quan sát không nên can thiệp vào hoạt động tự nhiên và thay đổi hành vi của đối tượng (nếu là con người), người quan sát phải tự mình tham gia vào hoạt động (lao động, học tập, vui chơi…) cùng với người được quan sát (cùng tham gia) để đảm bảo tính tự nhiên của hiện tượng, quá trình nghiên cứu.

+ Theo mục đích thì có các loại quan sát: Quan sát khía cạnh, toàn diện. Quan sát có bố trí (trong phòng thí nghiệm) Quan sát phát hiện, kiểm nghiệm .v.v….

+ Theo dấu hiệu không gian, thời gian, thì có các loại quan sát: liên tục, gián đoạn, theo đề tài tổng hợp, theo chuyên đề.

+ Theo dấu hiệu về mối liên hệ giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu có thể có các loại quan sát: trực tiếp, gián tiếp, công khai, kín đáo, có tham dự,không tham dự (chỉ đóng vai trò ghi chép).

+ Nhờ quan sát chuyển động Braonơ đã xây dựng nên thuyết phân tử – nguyên tử (phân tử chuyển động không ngừng và giữa chúng có khoảng cách)………

+ Galilê: Quan sát dao động của chiếc đèn lồng trong nhà thờ từ lúc bắt đầu đến lúc tắt, đã khái quát và nêu ra định luật chuyển động của con lắc đơn với chu kỳ: T = 2Π

Ví dụ: + Pavlôv: Nêu rõ khẩu hiệu hành động trong nghiên cứu khoa học “Quan sát,quan sát và quan sát…” nhờ có quan sát mà Pavlôv đã xây dựng được học thuyết “Phản xạ có điều kiện”.

– Ý nghĩa của phương pháp là: Quan sát là phương thức cơ bản để nhận thứcsự vật. Quan sát sử dụng một trong hai trường hợp: phát hiện vấn đề nghiên cứu: đặt giả thuyết kiểm chứng giả thuyết. Quan sát đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu cụ thể, cảm tính trực quan, song có ý nghĩa khoa học rất lớn, đem lại cho khoa học những giá trị thực sự.

Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện, hiện tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó.

Điều tra là phương pháp dùng những câu hỏi (hoặc bài toán) nhất loạt đặt ra cho một số lớn người nhằm thu được số những ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó.

– Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu. Các tài liệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn. Có hai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học.

(1) Điều tra cơ bản: Là khảo sát sự có mặt của đối tượng trên một diện rộng để nghiên cứu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định lượng. Ví dụ: điều tra địa chất, điều tra dân số, điều tra trình độ văn hóa, điều tra chỉ số thông minh (IQ) của trẻ em….

Các bước của điều tra cơ bản thường được tiến hành như sau: • Xây dựng kế hoạch điều tra gồm: mục đích, đối tượng, địa bàn, nhân lực, kinh phí… • Xây dựng các mẫu phiếu điều tra với các thông số, các chỉ tiêu cần làm sáng tỏ. • Chọn mẫu điều tra đại diện cho số đông, chú ý tới tất cả đặc trưng của đối tượng và chú ý đến: chi phí điều tra rẻ, thời gian có thể rút ngắn, nhân lực điều tra không quá đông, có thể kiểm soát tốt mọi khâu điều tra, dự tính được những diễn biến của quá trình điều tra và các kết quả nghiên cứu đúng mục đích.

Có hai kỹ thuật chọn mẫu: * Chọn mẫu xác suất là chọn mẫu ngẫu nhiên, đơn giản bằng cách lẫy mẫu theo hệ thống, từng lớp, từng nhóm hay theo từng giai đoạn thời gian. * Chọn mẫu chủ định là chọn mẫu theo địa chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Về kích thước mẫu phải tính toán chi li cho phù hợp với chiến lược điều tra và phạm vi đề tài.

Xử lý tài liệu: Các tài liệu thu được bằng điều tra có thể được phân loại bằng phương pháp thủ công hay xử lý bằng công thức toán học thống kê và máy tính cho ta kết quả khách quan. Khi kiểm tra kết quả nghiên cứu, có thể dùng cách lặp lại điều tra thay đổi địa điểm, thời gian, thay đổi người điều tra hoặc sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác.

(2) Điều tra xã hội học: là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về một sự kiện chính trị, xã hội, hiện tượng văn hóa, thị hiếu …

Ví dụ: điều tra nguyện vọng nghề nghiệp của thanh niên, điều tra hay trưng cầu dân ý về một luật mới ban hành….

– Điều tra là một phương pháp nghiên cứu khoa học quan trọng, một hoạt động có mục đích, có kế hoạch, được tiến hành một cách thận trọng, do đó người nghiên cứu cần tuân thủ nghiêm túc các bước sau đây:

+ Chuẩn bị điều tra gồm các thao tác: chọn mẫu, chọn địa bàn khảo sát, lựa chọn thời gian khảo sát, thiết kế phiếu hỏi và khảo sát định tính.

+ Tiến hành điều tra: điều tra viên phải được tập huấn để quán triệt mục đích, yêu cầu điều tra, thống nhất các biện pháp phù hợp với từng nhóm mẫu và từng địa bàn điều tra. Trong quá trình điều tra, người nghiên cứu cần tuân thủ những yêu cầu đã được đề ra. Nếu sử dụng cộng tác viên, điều tra viên, người nghiên cứu cần giám sát điều tra với mục đích thu được thông tin một cách khách quan, tin cậy.

+ Xử lý kết quả điều tra: được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại tư liệu và tiến hành xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh … theo những biến số độc lập để rút ra những thuộc tính chung của các tập hợp mẫu nhằm hình thành luận cứ cho các giả thuyết nghiên cứu.

Tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cũng như trạng thái tồn tại của đối tượng khảo sát, người nghiên cứu có thể lựa chọn, sử dụng một số biện pháp xử lý thông tin định tính hay định lượng bằng các số liệu, các loại biểu đồ, sơ đồ để mô tả, giải thích, làm rõ các thuộc tính bản chất, xu thế của đối tượng nghiên cứu.

– Phương pháp điều tra có nhiều loại: + Điều tra bằng trò chuyện (đàm thoại) + Điều tra bằng phiếu+ Điều tra bằng trắc nghiệm

Tùy theo mục đích và mức độ điều tra, người ta còn chia ra: + Điều tra thăm dò (diện rộng) + Điều tra sâu (hẹp, kín) + Điều tra bổ sung….

(3) Điều tra bằng trò chuyện (đàm thoại) Là phương pháp thu thập sự kiện về các hiện tượng, quá trình tâm lý thông qua quá trình giao tiếp trực tiếp với đối tượng theo một chương trình đã vạch ra một cách đặc biệt.

– Đàm thoại là phương pháp nghiên cứu mang tính chất độc lập hay bổ trợ nhằm làm sáng tỏ những điều chưa rõ khi quan sát, do đó cần được thực hiện theo kế hoạch định trước với những câu hỏi chuẩn bị trước để làm sáng tỏ vấn đề. Các phương pháp: phỏng vấn, tọa đàm, hỏi chuyện, trưng cầu ý kiến thuộc dòng họ của phương pháp trò chuyện (đàm thoại).

– Đặc điểm của phương pháp đàm thoại:

+ Nhờ tiếp xúc trực tiếp mà khả năng thay đổi câu hỏi cho phù hợp với các câu trả lời mà vẫn giữ nguyên được mục đích trong suốt thời gian trò chuyện. Điều quan trọng là phải duy trì trong suốt thời gian trò chuyện một không khí thoải mái,tự do và thiện chí, không được biến trò chuyện thành chất vấn, hỏi cung người được nghiên cứu.

+ Sự tiếp xúc trực tiếp sẽ tăng khả năng nghiên cứu không chỉ nội dung câu trả lời mà cả ẩn ý của chúng, đặc điểm của giọng nói và toàn bộ bức tranh hành vi của người đó. Bởi vậy, khi thiết kế buổi trò chuyện cần xác định rõ mục đích làm sao thu được kết quả dưới dạng trực tiếp và gián tiếp.

+ Trò chuyện có ưu điểm là cung cấp cho người nghiên cứu những tài liệu về những điều thầm kín nhất trong tâm hồn người được nghiên cứu mà các phương pháp khác không làm được, giúp giải thích nguyên nhân của những đặc điểm tâm lý này hay khác. Tuy nhiên, phương pháp trò chuyện có hạn chế là: không thể đảm bảo câu trả lời hoàn toàn trung thực (nhất là khi tâm lý trò chuyện không thuận lợi, quan hệ không cởi mở, cảm thông và hợp tác, không lịch thiệp, tế nhị và cởi mở khi trò chuyện). Do đó, phương pháp này chỉ là phương pháp để bổ trợ để thu lượm các tài liệu bổ sung, hoặc tìm hiểu sơ bộ về đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn đầuvà chỉ nên sử dụng phương pháp này trong việc nghiên cứu nhân cách nói chung và một số đặc điểm tâm lý nào đó nói riêng của con người.

(4) Điều tra bằng phiếu (Ankét)

Là phương pháp thu thập sự kiện trên cơ sở trả lời bằng văn bản (viết) của người được nghiên cứu theo một chương trình đã được thiết lập một cách đặc biệt. Nói khác: Ankét là phương pháp phỏng vấn gián tiếp thông qua việc hỏi và trả lời trên giấy. Việc xây dựng nội dung chính xác các câu hỏi và sự diễn đạt rõ ràng các câu hỏi có ý nghĩa quan trọng khi xây dựng ankét.

– Những yêu cầu của ankét: + Câu hỏi cần làm sao cho mọi người đều hiểu như nhau (đơn vị) vì khi điều tra không có sự tiếp xúc trực tiếp với đối tượng. + Phải hướng dẫn tỉ mỉ, trình tự, cách thức điền dấu vào ankét là rất cần thiết và quan trọng.

– Ankét chia làm 2 loại; kín và mở. + Ankét mở: người đọc phải tự mình biểu đạt câu trả lời cho những câu hỏi được đặt ra. Loại này giúp thu được tài liệu đầy đủ, phong phú hơn về đối tượng, nhưng rất khó xử lý kết quả thu được vì các câu trả lời rất đa dạng. + Ankét kín: chọn một trong các câu trả lời cho sẵn loại này dễ xử lý, nhưng tài liệu thu được chỉ đóng khung trong giới hạn của các câu trả lời đã cho trước.

– Ưu nhược điểm chung của ankét: Thu được khối lượng lớn tài liệu, độ tin cậy lại được xác định bằng “luật số lớn”, song độ tin cậy về sự tương đương giữa câu trả lời và hàm vi thực của đối tượng (người) không cao. Do đó, ankét chỉ được dùng với mục đích thăm dò, định hướng cho quá trình nghiên cứu.

(5) Điều tra bằng trắc nghiệm (test)

Là một công cụ đo lường đã được chuẩn hóa, dùng để đo lường khách quan một hay nhiều khía cạnh của một nhân cách hòan chỉnh qua những câu trả lời bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ (ký hiệu) hoặc bằng những loại hành vi khác (như biểu hiện tâm lý….)

Trắc nghiệm là phương pháp đo lường khách quan những hiện tượng, sự vật được trắc nghiệm, biểu hiện tâm lý và mức độ trắc nghiệm.

Về mặt lịch sử test có từ thế kỷ XIX do Jim Keton (Mỹ) phát hiện. Ở Mỹ dùng đầu tiên, sau đó sang Pháp và hiện nay sử dụng rộng rãi trên thế giới.

– Đặc trưng của Test + Tính chuẩn hóa của việc trình bày và xử lý kết quả. + Tính không phụ thuộc của kết quả vào ảnh hưởng của tình huống trắc nghiệm và nhân cách của người trắc nghiệm (người nghiên cứu). + Tính đối chiếu của các tài liệu cá thể với các tài liệu chuẩn mực (tức là những tài liệu đã thu được cũng trong những điều kiện như thế ở một nhóm khá tiêu biểu).

Có nhiều loại test: Test đo lường tâm lý. Test khả lực và Test tốc định. Test cá nhân và Test tập thể (nhóm). Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận. Test trí tuệ, hứng thú, tri thức và kỹ năng. Test năng lực chuyên môn, tính cách. Test nghiên cứu những chức năng tâm lý riêng: chú ý, trí nhớ, tư duy v.v….

Hiện tại có hàng nghìn loại Test khác nhau để xác định đủ các loại phẩm chất tâm sinh lý của con người: tri thức, tài năng, đức độ, độ nhanh nhạy, trí thông minh, đời sống tình cảm, trí nhớ, chú ý … của con người – nhờ đó mà giúp tuyển chọn con người khá chính xác cho mọi họat động, mọi lĩnh vực.

– Test khi sử dụng cần đảm bảo các yêu cầu: + Tính tin cậy: Khi dùng các hình thức khác nhau của cùng một Test hoặc tiến hành cùng một Test nhiều lần trên cùng một đối tượng (cá nhân hay cùng mộ tnhóm) đều thu được kết quả giống nhau. + Tính ứng nghiệm (hiệu lực): Test phải đo được chính xác cái định đo. + Tính quy chuẩn: Test phải được thực hiện theo thủ tục tiêu chuẩn và phải có những quy chuẩn, được căn cứ theo một nhóm chuẩn và nhóm này phải đông đảo và mang tính chất giống với những người sau này đưa ra trắc nghiệm – nghĩa là đại diện cho một quần thể (dân số). Các quy chuẩn của nhóm là một hệ thống các chuẩn cứ để kiến giải kết quả trắc nghiệm của bất cứ một cá nhân nào.

– Ưu và nhược điểm của Test: + Ưu điểm của Test: tính ngắn gọn, tính tiêu chuẩn, tính tiêu chuẩn, tính đơn giản về ký thuật và thiết bị, sự biểu đạt kết quả dưới hình thức số lượng (lượng hoá cao). + Nhược điểm của Test: • Tính không rõ rang về bản chất tâm lý của cái được xác định bằng test. • Chỉ quan tâm tới kết quả thống kê mà ít chú ý đến quá trình diễn biến của kết quả. • Dễ bị đánh tráo đối tượng nghiên cứu. • Không tính đến sự phát triển của năng lực nói riêng, của tâm lý nói chung. • Không tính đến các nhân tố đa dạng có ảnh hưởng đến kết quả.

Test được coi là một phương pháp nghiên cứu khoa học nhưng chỉ đóng vai trò bổ trợ, cho phép thu được tài liệu định hướng có giá trị.

Trong giáo dục, để khảo sát, đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên, mọi giáo viên bình thường có thể dùng test giáo dục – đó là loại trắc nghiệm khách quan dùng để khảo sát thành tích học tập của học sinh, sinh viên. Ngày nay, Test được sử dụng như một phương tiện kiểm tra tối ưu các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và như là một phương pháp nghiên cứu khoa học.

Test có tác dụng tích cực như sau: Nhanh chóng, tốn ít thời gian, đảm bảo tính khách quan trong đánh giá, khảo sát được một giới hạn rộng về nội dung của các môn học hoặc bài học, gây hứng thú và kích thích tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên.

Có thể sử dụng nhiều loại test trong giáo dục tuỳ theo cách đặt câu hỏi trắc nghiệm khác nhau. Thông thường sử dụng 5 loại test như sau: Trắc nghiệm đúng, sai (có, không) Trắc nghiệm nhiều lựa chọn Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi) Trắc nghiệm điền thế (điền khuyết) Trắc nghiệm hỏi đáp ngắn gọn (diễn giải)….

Mỗi loại test đều có ưu, nhược điểm riêng. Dùng test phải đúng mục đích, đúng lúc, đúng chỗ, cần có những chuẩn hoá hình thức đơn giản, tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh và tình huống cụ thể mà lựa chọn, sử dụng và phối hợp tối ưu các test để đạt được hiệu quả của hoạt động.

Phương pháp chuyên gia là phương pháp điều tra qua đánh giá của các chuyên gia về vấn đề, một sự kiện khoa học nào đó.

Thực chất đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó.

Phương pháp chuyên gia rất cần thiết cho người nghiên cứu không chỉ trong quá trình nghiên cứu mà còn cả trong quá trình nghiệm thu, đánh giá kết quả, hoặc thậm chí cả trong quá trình đề xuất giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng cố các luận cứ…..

Phương pháp chuyên gia là phương pháp có ý nghĩa kinh tế, nó tiết kiệm về thời gian, sức lực, tài chính để triển khai nghiên cứu. Tuy nhiên nó chủ yếu dựa trên cơ sở trực cảm hay kinh nghiệm của chuyên gia, vì vậy chỉ nên sử dụng khi các phương pháp không có điều kiện thực hiện, không thể thực hiện được hoặc có thể sử dụng phối hợp với các phương pháp khác.

Để sử dụng có hiệu quả phương pháp chuyên gia, người nghiên cứu cần chú ý: + Lựa chọn đúng chuyên gia có năng lực, kinh nghiệm về lĩnh vực nghiên cứu, trung thực, khách quan trong nhận định, đánh giá. + Lựa chọn những vấn đề cần tham vấn với những mục đích cụ thể để sử dụng chuyên gia phù hợp:

Nếu sử dụng chuyên gia để nhận định một sự kiện khoa học hay một giải pháp thông tin thì có thể thông qua các hình thức hội thảo, tranh luận….. Tất cả các tư liệu đều được xử lý theo một chuẩn, một hệ thống để tìm ra được các ý kiến gầ nnhau hoặc trùng nhau của đa số chuyên gia. Những ý kiến đó sẽ là những kết luận chung về sự kiện cần tìm.

Nếu sử dụng chuyên gia với mục đích đánh giá một công trình khoa học thì phải xây dựng một hệ thống các tiêu chí cụ thể, tường minh và có thể dùng một thang điểm chuẩn để đánh giá, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật để các chuyên gia đánh giá theo các thang điểm chuẩn đó sẽ giảm thiểu sai sót kỹ thuật có thể xảy ra.

Để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá và nhận định về một sự kiện khoa học, cần hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng qua lại của chuyên gia, có thể đánh giá bằng văn bản, không để các chuyên gia gặp gỡ nhau trực diện, phát biểu công khai, nếu cần đánh giá công khai thì người có uy tín nhất không phải là người đầu tiên phát biểu ý kiến.

Phương pháp chuyên gia được chia thành nhiều loại:

(1) Phỏng vấn Phỏng vấn là đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để thu thập thông tin.Trước mỗi đối tượng được chọn để phỏng vấn, người nghiên cứu cần có những cách tiếp cận khác nhau để thu được từ người được phỏng vấn những thông tin cần thiết cho nghiên cứu.

Trong phỏng vấn người ta chia ra các loại như: phỏng vấn có chuẩn bị trước, phỏng vấn không chuẩn bị trước, trao đổi trực tiếp, trao đổi qua điện thoại…..

(2) Phương pháp hội đồng

Trong phương pháp hội đồng, người ta thường dùng phương pháp tấn công não (brainstorming) gồm hai giao đoạn tách biệt nhau: giai đoạn phát ý tưởng và giai đoạn phân tích ý tưởng do hai nhóm chuyên gia thực hiện (nhóm này phát ý tưởng, còn nhóm kia phân tích). Người tổ chức tấn công não cần: tạo bầu không khí tự do tư tưởng, thoải mái tinh thần, không ai được thể hiện khích lệ, tán thưởng,châm biếm hoặc chỉ trích, lắng nghe mọi ý kiến, kể cả những ý kiến lạc đề.

Việc tổ chức lấy ý kiến trong các hội nghị bàn tròn, hôi thảo… đều là những dạng khác nhau của phương pháp hội đồng.

(3) Điều tra bằng bảng hỏi Điều tra bằng bảng hỏi là một phương pháp dùng phiếu hỏi do người nghiên cứu thiết kế sẵn một phiếu với những câu hỏi được sắp xếp theo một trật tự của suy luận logic (diễn dịch, quy nạp hoặc loại suy), người nghiên cứu có thể thu được những thông tin chân xác về sự vật hoặc hiện tượng từ đối tượng điều tra.

Về mặt kỹ thuật của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi có ba loại công việc phải chú ý:

– Chọn mẫu: Việc chọn mẫu phải đảm bảo vừa mang tính ngẫu nhiên, vừa mang tính đại diện, tránh việc chọn mẫu theo định hướng chủ quan của người nghiên cứu.

Có một số sách chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, chọn mẫu hệ thống phân tầng, chọn mẫu từng cụm…

– Thiết kế bảng câu hỏi: có hai nội dung cần quan tâm:

+ Các loại câu hỏi: các loại câu hỏi phải đảm bảo khai thác cao nhất ý kiến cá nhân từng người được hỏi, thông thường có một số câu hỏi trong các cuộc điều tra như: Câu hỏi kèm phương án trả lời “có” và “không” Câu hỏi kèm nhiều phương án trả lời để mở rộng khả năng lựa chọn. Câu hỏi kèm phương án trả lời có trọng số để phân biệt mức độ quan trọng. Các câu hỏi mở để người điền phiếu trả lời theo ý mình.

+ Trật tự lôgic của các câu hỏi: phép suy luận được sử dụng trong quá trình tổ chức bộ câu hỏi, có thể sử dụng phép suy luận diễn dịch, quy nạp hoặc loại suy để tổ chức bộ câu hỏi.

Suy luận diễn dịch: khi cần công bố toàn bộ mục đích cuộc điều tra. Suy luận quy nạp: khi cần công bố từng phần mục đích cuộc điều tra. Loại suy: khi cần giữ bí mật hoàn toàn mục đích cuộc điều tra.

Cách tổ chức câu hỏi vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính nghệ thuật vận dụng các phép suy luận lôgic trong các cuộc điều tra.

– Xử lý kết quả điều tra: + Áp dụng nguyên tắc tổng hợp tư liệu trong tiếp cận lịch sử để sắp xếp, phân tích và tổng hợp tư liệu theo “trình tự thời gian” và “nhân-quả”.

+ Kết quả điều tra được xử lý dựa trên cơ sở thống kê toán. Hiện nay,chương trình xử lý thống kê trên máy đã được phổ dụng – đó là chương trình SPSS (Statistical Package for Social Studies) giúp giảm nhẹ rất nhiều công việc xử lý các kết quả điều tra.

List Các Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Tiễn

Nghiên cứu thực tiễn là các phương pháp trực tiếp tác động vào đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của đối tượng đó, giúp người nghiên cứu thu thập thông tin hoặc làm nảy sinh các ý tưởng nghiên cứu và đề xuất sáng tạo.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm các phương pháp cụ thể như sau:

Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện, hiện tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó. Ý nghĩa của phương pháp là: Quan sát là phương thức cơ bản để nhận thức sự vật. Quan sát sử dụng một trong hai trường hợp: phát hiện vấn đề nghiên cứu: đặt giả thuyết kiểm chứng giả thuyết. Quan sát đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu cụ thể, cảm tính trực quan, song có ý nghĩa khoa học rất lớn, đem lại cho khoa học những giá trị thực sự.

Chẳng hạn:

Pavlôv: Nêu rõ khẩu hiệu hành động trong nghiên cứu khoa học “Quan sát, quan sát và quan sát…” – nhờ có quan sát mà Pavlôv đã xây dựng được học thuyết “Phản xạ có điều kiện”.

Niutơn: Quan sát hiện tượng quả táo rơi, khái quát và xây dựng nên: “Định luật vạn vật hấp dẫn”.

Galilê: Quan sát dao động của chiếc đèn lồng trong nhà thờ từ lúc bắt đầu đến lúc tắt, đã khái quát và nêu ra định luật chuyển động của con lắc đơn với chu kỳ: T = 2Π

Nhờ quan sát chuyển động Braonơ đã xây dựng nên thuyết phân tử – nguyên tử (phân tử chuyển động không ngừng và giữa chúng có khoảng cách)………

Các loại quan sát:

Theo dấu hiệu về mối liên hệ giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu có thể có các loại quan sát: trực tiếp, gián tiếp, công khai, kín đáo, có tham dự, không tham dự (chỉ đóng vai trò ghi chép).

Theo dấu hiệu không gian, thời gian, thì có các loại quan sát: liên tục, gián đoạn, theo đề tài tổng hợp, theo chuyên đề.

Theo mục đích thì có các loại quan sát: Quan sát khía cạnh, toàn diện.

Quan sát có bố trí (trong phòng thí nghiệm) Quan sát phát hiện, kiểm nghiệm .v.v….

Hoặc nếu theo mục đích xử lý thông tin thì có: quan sát mô tả, quan sát phân tích….

Những yêu cầu của quan sát:

Quan sát những biến dạng:

Phương pháp phân tích các sản phẩm hoạt động: Trường hợp nghiên cứu đối tượng (là người) chỉ thông qua sản phẩm của nó…. Thực chất thì chính các quá trình tâm lý được “vật hóa” trong các sản phẩm hoạt động – đó là đối tượng nghiên cứu (Ví dụ: nghiên cứu tâm lý trẻ em thông qua bức tranh em vẽ, bài thơ do em làm, bài tập do em thể hiện……)

Phương pháp khái quát hóa các nhận xét độc lập (phương pháp nhận định độc lập) cũng là dòng họ của quan sát, vì các nhận định độc lập được xây dựng từ quan sát trong các hiện tượng khác nhau (ví dụ: quan sát trực tiếp học sinh – sinh viên trong giờ học khi dự giờ để tìm hiểu phong cách, thái độ học tập, hứng thú đối với môn học và tích cực học tập của học sinh). Khái quát nhận xét riêng của từng giáo viên về một học sinh để nghiên cứu đặc điểm nhân cách của em đó.

Quan sát có ưu điểm là giữ được tính tự nhiên (khách quan của các sự kiện, hiện tượng và biểu hiện tâm lý con người, cung cấp số liệu sống động, cụ thể, phong phú, quan sát được thực hiện khá đơn giản, không tốn kém. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của quan sát là: người quan sát đóng vai trò thụ động, phải chờ đợi các hiện tượng diễn ra, không chủ động làm chúng diễn ra theo ý muốn được, khó khăn trong việc đánh giá sự tồn tại của những điều kiện nảy sinh các hiện tượng, sự kiện và do đó khó tách các mối liên hệ nhân quả.

Tóm lại, quan sát là phương pháp nghiên cứu khoa học quan trọng, cần phải phối hợp với các phương pháp khác để đạt tới trình độ nhận thức bản chất bên trong của đối tượng.

Phương pháp điều tra

Điều tra là phương pháp dùng những câu hỏi (hoặc bài toán) nhất loạt đặt ra cho một số lớn người nhằm thu được số những ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó.

Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu. Các tài liệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn.

Có hai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học.

Điều tra cơ bản

Điều tra cơ bản: là khảo sát sự có mặt của đối tượng trên một diện rộng để nghiên cứu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định lượng.

Ví dụ: điều tra địa chất, điều tra dân số, điều tra trình độ văn hóa, điều tra chỉ số thông minh (IQ) của trẻ em…. Các bước của điều tra cơ bản thường được tiến hành như sau:

Có hai kỹ thuật chọn mẫu:

Chọn mẫu xác suất là chọn mẫu ngẫu nhiên, đơn giản bằng cách lẫy mẫu theo hệ thống, từng lớp, từng nhóm hay theo từng giai đoạn thời gian.

Chọn mẫu chủ định là chọn mẫu theo địa chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho mục đích nghiên cứu thực tiễn. Về kích thước mẫu phải tính toán chi li cho phù hợp với chiến lược điều tra và phạm vi đề tài.

Xử lý tài liệu: Các tài liệu thu được bằng điều tra có thể được phân loại bằng phương pháp thủ công hay xử lý bằng công thức toán học thống kê và máy tính cho ta kết quả khách quan. Khi kiểm tra kết quả nghiên cứu, có thể dùng cách lặp lại điều tra thay đổi địa điểm, thời gian, thay đổi người điều tra hoặc sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác.

Điều tra xã hội học

Chuẩn bị điều tra gồm các thao tác: chọn mẫu, chọn địa bàn khảo sát, lựa chọn thời gian khảo sát, thiết kế phiếu hỏi và khảo sát định tính.

Tiến hành điều tra: điều tra viên phải được tập huấn để quán triệt mục đích, yêu cầu điều tra, thống nhất các biện pháp phù hợp với từng nhóm mẫu và từng địa bàn điều tra. Trong quá trình điều tra, người nghiên cứu cần tuân thủ những yêu cầu đã được đề ra. Nếu sử dụng cộng tác viên, điều tra viên, người nghiên cứu cần giám sát điều tra với mục đích thu được thông tin một cách khách quan, tin cậy.

+ Xử lý kết quả điều tra: được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại tư liệu và tiến hành xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh … theo những biến số độc lập để rút ra những thuộc tính chung của các tập hợp mẫu nhằm hình thành luận cứ cho các giả thuyết nghiên cứu. Tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cũng như trạng thái tồn tại của đối tượng khảo sát, người nghiên cứu có thể lựa chọn, sử dụng một số biện pháp xử lý thông tin định tính hay định lượng bằng các số liệu, các loại biểu đồ, sơ đồ để mô tả, giải thích, làm rõ các thuộc tính bản chất, xu thế của đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp điều tra có nhiều loại:

Tùy theo mục đích và mức độ điều tra, người ta còn chia ra:

Điều tra bằng trò chuyện

Điều tra bằng trò chuyện (đàm thoại) Là phương pháp thu thập sự kiện về các hiện tượng, quá trình tâm lý thông qua quá trình giao tiếp trực tiếp với đối tượng theo một chương trình đã vạch ra một cách đặc biệt.

– Đàm thoại là phương pháp nghiên cứu mang tính chất độc lập hay bổ trợ nhằm làm sáng tỏ những điều chưa rõ khi quan sát, do đó cần được thực hiện theo kế hoạch định trước với những câu hỏi chuẩn bị trước để làm sáng tỏ vấn đề. Các phương pháp: phỏng vấn, tọa đàm, hỏi chuyện, trưng cầu ý kiến thuộc dòng họ của phương pháp trò chuyện (đàm thoại).

– Đặc điểm của phương pháp đàm thoại:

Nhờ tiếp xúc trực tiếp mà khả năng thay đổi câu hỏi cho phù hợp với các câu trả lời mà vẫn giữ nguyên được mục đích trong suốt thời gian trò chuyện. Điều quan trọng là phải duy trì trong suốt thời gian trò chuyện một không khí thoải mái, tự do và thiện chí, không được biến trò chuyện thành chất vấn, hỏi cung người được nghiên cứu.

Sự tiếp xúc trực tiếp sẽ tăng khả năng nghiên cứu không chỉ nội dung câu trả lời mà cả ẩn ý của chúng, đặc điểm của giọng nói và toàn bộ bức tranh hành vi của người đó. Bởi vậy, khi thiết kế buổi trò chuyện cần xác định rõ mục đích làm sao thu được kết quả dưới dạng trực tiếp và gián tiếp.

Trò chuyện có ưu điểm là cung cấp cho người nghiên cứu những tài liệu về những điều thầm kín nhất trong tâm hồn người được nghiên cứu thực tiễn mà các phương pháp khác không làm được, giúp giải thích nguyên nhân của những đặc điểm tâm lý này hay khác. Tuy nhiên, phương pháp trò chuyện có hạn chế là: không thể đảm bảo câu trả lời hoàn toàn trung thực (nhất là khi tâm lý trò chuyện không thuận lợi, quan hệ không cởi mở, cảm thông và hợp tác, không lịch thiệp, tế nhị và cởi mở khi trò chuyện). Do đó, phương pháp này chỉ là phương pháp để bổ trợ để thu lượm các tài liệu bổ sung, hoặc tìm hiểu sơ bộ về đối tượng nghiên cứu thực tiễn trong giai đoạn đầu và chỉ nên sử dụng phương pháp này trong việc nghiên cứu nhân cách nói chung và một số đặc điểm tâm lý nào đó nói riêng của con người.

Điều tra bằng phiếu

Điều tra bằng phiếu (Ankét) Là phương pháp thu thập sự kiện trên cơ sở trả lời bằng văn bản (viết) của người được nghiên cứu theo một chương trình đã được thiết lập một cách đặc biệt. Nói khác: Ankét là phương pháp phỏng vấn gián tiếp thông qua việc hỏi và trả lời trên giấy. Việc xây dựng nội dung chính xác các câu hỏi và sự diễn đạt rõ rang các câu hỏi có ý nghĩa quan trọng khi xây dựng ankét.

– Những yêu cầu của ankét:

Câu hỏi cần làm sao cho mọi người đều hiểu như nhau (đơn vị) vì khi điều tra không có sự tiếp xúc trực tiếp với đối tượng.

Phải hướng dẫn tỉ mỉ, trình tự, cách thức điền dấu vào ankét là rất cần thiết và quan trọng.

– Ankét chia làm 2 loại; kín và mở.

Ankét mở: người đọc phải tự mình biểu đạt câu trả lời cho những câu hỏi được đặt ra. Loại này giúp thu được tài liệu đầy đủ, phong phú hơn về đối tượng, nhưng rất khó xử lý kết quả thu được vì các câu trả lời rất đa dạng.

Ankét kín: chọn một trong các câu trả lời cho sẵn loại này dễ xử lý, nhưng tài liệu thu được chỉ đóng khung trong giới hạn của các câu trả lời đã cho trước.

– Ưu nhược điểm chung của ankét:

Thu được khối lượng lớn tài liệu, độ tin cậy lại được xác định bằng “luật số lớn”, song độ tin cậy về sự tương đương giữa câu trả lời và hàm vi thực của đối tượng (người) không cao. Do đó, ankét chỉ được dùng với mục đích thăm dò, định hướng cho quá trình nghiên cứu.

Điều tra bằng trắc nghiệm

Điều tra bằng trắc nghiệm (test)

– Đặc trưng của Test

Có nhiều loại test:

Test đo lường tâm lý.

Test khả lực và Test tốc định.

Test cá nhân và Test tập thể (nhóm).

Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận. Test trí tuệ, hứng thú, tri thức và kỹ năng.

Test năng lực chuyên môn, tính cách.

Test nghiên cứu thực tiễn những chức năng tâm lý riêng: chú ý, trí nhớ, tư duy v.v….

Hiện tại có hàng nghìn loại Test khác nhau để xác định đủ các loại phẩm chất tâm sinh lý của con người: tri thức, tài năng, đức độ, độ nhanh nhạy, trí thông minh, đời sống tình cảm, trí nhớ, chú ý … của con người – nhờ đó mà giúp tuyển chọn con người khá chính xác cho mọi họat động, mọi lĩnh vực.

– Test khi sử dụng cần đảm bảo các yêu cầu:

– Ưu và nhược điểm của Test:

+ Ưu điểm của Test: tính ngắn gọn, tính tiêu chuẩn, tính tiêu chuẩn, tính đơn giản về ký thuật và thiết bị, sự biểu đạt kết quả dưới hình thức số lượng (lượng hoá cao).

+ Nhược điểm của Test:

Tính không rõ rang về bản chất tâm lý của cái được xác định bằng test.

Chỉ quan tâm tới kết quả thống kê mà ít chú ý đến quá trình diễn biến của kết quả.

Dễ bị đánh tráo đối tượng nghiên cứu thực tiễn.

Không tính đến sự phát triển của năng lực nói riêng, của tâm lý nói chung.

Không tính đến các nhân tố đa dạng có ảnh hưởng đến kết quả.

Test được coi là một phương pháp nghiên cứu khoa học nhưng chỉ đóng vai trò bổ trợ, cho phép thu được tài liệu định hướng có giá trị. Trong giáo dục, để khảo sát, đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên, mọi giáo viên bình thường có thể dùng test giáo dục – đó là loại trắc nghiệm khách quan dùng để khảo sát thành tích học tập của học sinh, sinh viên. Ngày nay, Test được sử dụng như một phương tiện kiểm tra tối ưu các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và như là một phương pháp nghiên cứu khoa học.

Test có tác dụng tích cực như sau:

Nhanh chóng, tốn ít thời gian, đảm bảo tính khách quan trong đánh giá, khảo sát được một giới hạn rộng về nội dung của các môn học hoặc bài học, gây hứng thú và kích thích tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên. Có thể sử dụng nhiều loại test trong giáo dục tuỳ theo cách đặt câu hỏi trắc nghiệm khác nhau. Thông thường sử dụng 5 loại test như sau:

Mỗi loại test đều có ưu, nhược điểm riêng. Dùng test phải đúng mục đích, đúng lúc, đúng chỗ, cần có những chuẩn hoá hình thức đơn giản, tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh và tình huống cụ thể mà lựa chọn, sử dụng và phối hợp tối ưu các test để đạt được hiệu quả của hoạt động.

Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là phương pháp điều tra qua đánh giá của các chuyên gia về vấn đề, một sự kiện khoa học nào đó. Thực chất đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó. Phương pháp chuyên gia rất cần thiết cho người nghiên cứu không chỉ trong quá trình nghiên cứu mà còn cả trong quá trình nghiệm thu, đánh giá kết quả, hoặc thậm chí cả trong quá trình đề xuất giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng cố các luận cứ….. Phương pháp chuyên gia là phương pháp có ý nghĩa kinh tế, nó tiết kiệm về thời gian, sức lực, tài chính để triển khai nghiên cứu. Tuy nhiên nó chủ yếu dựa trên cơ sở trực cảm hay kinh nghiệm của chuyên gia, vì vậy chỉ nên sử dụng khi các phương pháp không có điều kiện thực hiện, không thể thực hiện được hoặc có thể sử dụng phối hợp với các phương pháp khác. Để sử dụng có hiệu quả phương pháp chuyên gia, người nghiên cứu thực tiễn cần chú ý:

+ Lựa chọn đúng chuyên gia có năng lực, kinh nghiệm về lĩnh vực nghiên cứu, trung thực, khách quan trong nhận định, đánh giá.

+ Lựa chọn những vấn đề cần tham vấn với những mục đích cụ thể để sử dụng chuyên gia phù hợp:

Ě Nếu sử dụng chuyên gia để nhận định một sự kiện khoa học hay một giải pháp thông tin thì có thể thông qua các hình thức hội thảo, tranh luận….. Tất cả các tư liệu đều được xử lý theo một chuẩn, một hệ thống để tìm ra được các ý kiến gần nhau hoặc trùng nhau của đa số chuyên gia. Những ý kiến đó sẽ là những kết luận chung về sự kiện cần tìm. Ě Nếu sử dụng chuyên gia với mục đích đánh giá một công trình khoa học thì phải xây dựng một hệ thống các tiêu chí cụ thể, tường minh và có thể dùng một thang điểm chuẩn để đánh giá, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật để các chuyên gia đánh giá theo các thang điểm chuẩn đó sẽ giảm thiểu sai sót kỹ thuật có thể xảy ra. Ě Để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá và nhận định về một sự kiện khoa học, cần hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng qua lại của chuyên gia, có thể đánh giá bằng văn bản, không để các chuyên gia gặp gỡ nhau trực diện, phát biểu công khai, nếu cần đánh giá công khai thì người có uy tín nhất không phải là người đầu tiên phát biểu ý kiến.

Phương pháp chuyên gia được chia thành nhiều loại:

Phỏng vấn

Phỏng vấn là đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để thu thập thông tin. Trước mỗi đối tượng được chọn để phỏng vấn, người nghiên cứu cần có những cách tiếp cận khác nhau để thu được từ người được phỏng vấn những thông tin cần thiết cho nghiên cứu. Trong phỏng vấn người ta chia ra các loại như: phỏng vấn có chuẩn bị trước, phỏng vấn không chuẩn bị trước, trao đổi trực tiếp, trao đổi qua điện thoại…..

Phương pháp hội đồng

Điều tra bằng bảng hỏi cho phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra bằng bảng hỏi là một phương pháp dùng phiếu hỏi do người nghiên cứu thiết kế sẵn một phiếu với những câu hỏi được sắp xếp theo một trật tự của suy luận logic (diễn dịch, quy nạp hoặc loại suy), người nghiên cứu có thể thu được những thông tin chân xác về sự vật hoặc hiện tượng từ đối tượng điều tra. Về mặt kỹ thuật của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi có ba loại công việc phải chú ý: – Chọn mẫu: Việc chọn mẫu phải đảm bảo vừa mang tính ngẫu nhiên, vừa mang tính đại diện, tránh việc chọn mẫu theo định hướng chủ quan của người nghiên cứu. Có một số sách chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, chọn mẫu hệ thống phân tầng, chọn mẫu từng cụm… – Thiết kế bảng câu hỏi: có hai nội dung cần quan tâm: + Các loại câu hỏi: các loại câu hỏi phải đảm bảo khai thác cao nhất ý kiến cá nhân từng người được hỏi, thông thường có một số câu hỏi trong các cuộc điều tra như:

+ Trật tự lôgic của các câu hỏi: phép suy luận được sử dụng trong quá trình tổ chức bộ câu hỏi, có thể sử dụng phép suy luận diễn dịch, quy nạp hoặc loại suy để tổ chức bộ câu hỏi. Suy luận diễn dịch: khi cần công bố toàn bộ mục đích cuộc điều tra.

Suy luận quy nạp: khi cần công bố từng phần mục đích cuộc điều tra. Loại suy: khi cần giữ bí mật hoàn toàn mục đích cuộc điều tra. Cách tổ chức câu hỏi vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính nghệ thuật vận dụng các phép suy luận lôgic trong các cuộc điều tra.

– Xử lý kết quả điều tra:

+ Áp dụng nguyên tắc tổng hợp tư liệu trong tiếp cận lịch sử để sắp xếp, phân tích và tổng hợp tư liệu theo “trình tự thời gian” và “nhân-quả”.

+ Kết quả điều tra được xử lý dựa trên cơ sở thống kê toán. Hiện nay, chương trình xử lý thống kê trên máy đã được phổ dụng – đó là chương trình SPSS (Statistical Package for Social Studies) giúp giảm nhẹ rất nhiều công việc xử lý các kết quả điều tra.

Phương pháp thực nghiệm khoa học

Là phương pháp thu thập các sự kiện trong những điều kiện được tạo ra một cách đặc biệt (tạo ra kinh nghiệm mới, lý thuyết mới để khẳng định những mối liên hệ dự kiến sẽ có trong những điều kiện mới) đảm bảo cho sự thể hiện tích cực, chủ động của các hiện tượng, sự kiện nghiên cứu. Nói cách khác: Là chủ động gây ra hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện khống chế, nhờ đó có thể lặp lại nhiều lần, tách bạch ra và biến thiên từng nhân tố tác động và đánh giá, đo đạc tỉ mỉ sự biến đổi của hiệu quả theo sự biến thiên ấy.

– Phương pháp thực nghiệm khoa học là một trong các phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học. Song chỉ được sử dụng khi và chỉ khi đặt ra bài toán làm sáng tỏ các mối liên hệ, sự phụ thuộc, giữa các hiện tượng nghiên cứu và sự thể hiện các giả định, kiểm định các giả thuyết.

Có 3 điều kiện để sử dụng phương pháp thực nghiệm khoa học:

Tính chất đặc trưng của phương pháp thực nghiệm:

Cho khả năng nghiên cứu các hiện tượng với việc xác định đúng đắn các tác động quyết định để làm nhanh lên hoặc chậm lại các quá trình.

Cho khả năng thực hiện độc lập với môi trường (thực nghiệm trong phòng thí nghiệm).

Việc bổ sung nội dung của đối tượng thực hiện bằng các thành phần mới để làm thay đổi sự phát triển của đối tượng.

Kiểm định các giả thuyết giả định đã nêu ra và có những kết luận về chúng.

Giải thích các kết quả nhờ các công cụ và phương tiện đặc biệt.

– Yêu cầu cơ bản của việc sử dụng phương pháp thực nghiệm:

Không được cản trở hoặc đảo lộn tiến trình hoạt động bình thường của đối tượng nghiên cứu.

Chỉ được tiến hành thực nghiệm khi có đầy đủ luận cứ: mục đích; điều kiện (cơ sở lý luận, giả thuyết khoa học, đối tượng, tác động, phương pháp nghiên cứu, địa bàn thực nghiệm, lực lượng tham gia thực nghiệm v.v…); các bước thực nghiệm; xử lý kết quả; phân tích lý luận; khái quát hoá và hình thành tri thức mới… để tin tưởng rằng việc đưa ra những cái mới đã được kiểm tra vào quá trình nghiên cứu chỉ có thể góp phần nâng cao hiệu quả và thành công của công trình nghiên cứu, ít ra là không gây hậu quả xấu.

– Phân loại: thường chia thành hai loại phương pháp thực nghiệm chính:

Thực nghiệm tự nhiên.

Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Ngoài ra do mục đích và mức độ nghiên cứu người ta còn chia thành các loại phương pháp thực nghiệm khác như:

Thực nghiệm thăm dò.

Thực nghiệm xét nghiệm.

Thực nghiệm định tính.

Thực nghiệm định lượng…

Thực nghiệm tự nhiên phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Là phương pháp tiến hành trong điều kiện bình thường, giữ được trạng thái và nội dung hoạt động tự nhiên của đối tượng mà người nghiên cứu vẫn chủ động gây ra được những hiện tượng cần nghiên cứu. Thực chất của phương pháp này là đem vấn đề nghiên cứu thực tiễn ra tổ chức thực hiện ở một địa bàn nhất định với những yêu cầu nhất định đối với những đối tượng thực hiện. Người nghiên cứu đưa ra kế hoạch thật tỉ mỉ, hợp lý tạo điều kiện thực hiện, có theo dõi, có đối chứng để cuối cùng có được những kết luận về tác dụng của những vấn đề mới đưa ra và phổ biến rộng rãi việc áp dụng.

Thực nghiêm trong phòng thí nghiệm

Là phương pháp thực nghiệm được tiến hành để kiểm tra một vấn đề riêng biệt nào đó, hoặc để thu thập những cứ liệu cần thiết về đối tượng nghiên cứu. Phương pháp này có thể dùng các thiết bị chuyên môn, phương tiện kỹ thuật đặc biệt. Nếu không thì có thể dùng các tài liệu thực nghiệm được soạn thảo đặc biệt. – Nếu sử dụng thiết bị thì cho phép ghi nhận chính xác những tác động bên ngoài và câu trả lời tương ứng của người thực nghiệm.

Phương pháp thực nghệm trong phòng thí nghiệm nói chung trước đây ít được ứng dụng để nghiên cứu trong khoa học giáo dục, chủ yếu dùng trong việc nghiên cứu các đối tượng – sự vật, hiện tượng, quá trình của tự nhiên và xã hội. Ngày nay, có thể dùng phương pháp này trong việc nghiên cứu hoạt động của con người: vận động, trí nhớ, chú ý, trí tuệ, tình cảm, ý chí và còn sử dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu thực tiễn cơ chế sinh lý của các thể hiện tâm lý ở con người, các quá trình nhận thức và trạng thái tâm lý riêng lẻ mà trước hết là cảm giác, tri giác, trí nhớ, chú ý…(người ta dùng máy tốc thị giản đơn hay điện tử để nghiên cứu tốc độ tri giác, khối lượng chú ý…). – Nếu không sử dụng thiết bị máy móc thì dùng tài liệu được soạn thảo một cách chuyên biệt làm phương tiện kích thích các hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu thực tiễn. Đó là một loạt chữ số, những đoạn câu mạch lạc hay không mạch lac, các loại từ có hoặc không có màu sắc xúc cảm… để nhận biết. Khác với thực nghiệm tự nhiên, thực nghiệm trong phòng thí nghiệm có thể là:

Thực nghiệm xác nhận: có hay không có hiện tượng này khác.

Thực nghiệm hình thành: nghiên cứu các hiện tượng trực tiếp trong quá trình hình thành tích cực những đặc điểm này hay khác.

– Các quy tắc vận dụng phương pháp thực nghiệm khoa học:

+ Xây dựng sơ đồ thực nghiệm nhân tố (định tính).

+ Nêu giả thuyết về hiệu quả có thể xác định được đã được phát hiện ra quá trình nghiên cứu trước.

+ Ước lượng các biến thiên: có những yếu tố không đo đạc được phải lượng hoá việc đo đạc. Người ta dùng phương pháp đơn giản:

* Dùng phương pháp ghi dấu: dùng dấu hiệu qui ước nào đó của đối tượng nghiên cứu, khi gặp lại có thể đánh dấu và đếm được các dấu (như đếm lỗi chính tả). * Lập biểu phân hạng (xếp hạng): xếp các đối tượng thành một dãy theo tiêu chuẩn tăng dần hoặc giảm dần và sau đó gán cho mỗi đối tượng (hiện tượng) nghiên cứu thực tiễn một số chỉ rõ một đối tượng.

+ Khống chế các tác động thực nghiệm:

* Khống chế ảnh hưởng thứ tự các tác động (dùng kỹ thuật hoán vị). * Khống chế những điều kiện chủ quan của đối tượng được thực nghiệm để nó cân bằng và ổn định. * Khống chế những tác động không thực nghiệm (giảm entropi).

+ Đảm bảo tính chất tiêu biểu của đối tượng nghiên cứu: quy nạp các đối tượng nhỏ để có tác dụng phổ biến, nên mẫu nghiên cứu phải tiêu biểu.

Có hai cách chọn nhóm mẫu:

Ngẫu nhiên: theo thống kê xác suất (chọn bất kỳ). Chọn mẫu đại diện (chọn tỷ lệ tất cả như nhau). + Ghi biên bản: Cần ghi biên bản tỷ mỷ, chính xác. – Phương pháp thực nghiệm khoa học cho phép đi sâu vào quan hệ bản chất, xác định được các quy luật, phát hiện ra các thành phần và cơ chế chính xác, kết quả thu được có độ tin cậy cao. Nhà nghiên cứu không thụ động chờ đợi sự xuất hiện các hiện tượng mà mình quan tâm mà tự mình tạo ra các điều kiện nên có khả năng tính đến một cách đầy đủ hơn các điều kiện đó cũng như những ảnh hưởng mà các điều kiện ấy gây ra cho đối tượng (người được nghiên cứu). Song hạn chế của phương pháp thực nghiệm khoa học là: hiện tượng diễn ra không được thực như tự nhiên, đòi hỏi phải có thiết bị, kỹ năng, tổ chức, thời gian tương đối phức tạp, khó có thể dùng phương pháp này để nghiên cứu những hoạt động diễn biến phức tạp trong tư tưởng, tình cảm con người.

Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm

Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp kết hợp lý luận với thực tế, đem lý luận phân tích thực tế, từ phân tích thực tế lại rút ra lý luận cao hơn. Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp xem xét lại những thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho khoa học và thực tiễn. Tổng kết kinh nghiệm thường hướng vào các hoạt động xã hội và được tiến hành như sau:

Phát hiện các sự kiện điển hình, các sự kiện này có ảnh hưởng lớn đối với cuộc sống và hoạt động thực tiễn.

Gặp gỡ, trao đổi với những nhân chứng, những người đã trực tiếp tham gia sự kiện để họ mô tả, bày tỏ cảm xúc, đưa ra nhận định, đánh giá về nguyên nhân và diễn biến sự kiện.

Lặp lại mô hình sự kiện, khôi phục lại sự kiện đã xảy ra.

Phân tích từng mặt của sự kiện, những nguyên nhân, hoàn cảnh xuất hiện, diễn biến sự kiện theo trình tự lịch sử.

Dựa trên một lý thuyết khoa học để chứng minh, để giải thích sự kiện, tìm ra những kết luận thực sự khách quan về bản chất và quy luật phát triển của sự kiện, rút ra những bài học cần thiết, sau đó cần được phổ biến, tuyên truyền rộng rãi những bài học rút ra được qua phân tích và tổng kết kinh nghiệm.

Phân tích và tổng kết kinh nghiệm được coi là một phương pháp nghiên cứu khoa học độc lập, chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng và khoa học xã hội nói chung, có nhiệm vụ nghiên cứu, phân tích, phát hiện, tổng kết những kinh nghiệm tiên tiến của bản thân người khác hay của một tập thể khác. Phân tích và tổng kết kinh nghiệm giúp người nghiên cứu thực tiễn phát hiện các vấn đề cần giải quyết, nêu lên giả thuyết về những mối liên hệ có tính quy luật giữa các tác động và kết quả, kiến nghị các biện pháp, giải pháp để bổ khuyết thiếu sót và hoàn thiện quá trình hay một vấn đề nào đó.

Do đó, có thể nói: Phân tích và tổng kết kinh nghiệm cũng là thực hiên một đề tài NCKH, chỉ khác là tên đề tài đã được xác định, các kết quả đã có sẵn. Điều đó có ý nghĩa quan trọng là lựa chọn đúng đắn, đầy đủ luận cứ khoa học, các kinh nghiệm tiên tiến cần phân tích, tổng kết và sau đó đưa ra những biện pháp để cải tiến, hoàn thiện và nâng lên ở mức cao hơn.

– Để thực hiện phân tích và tổng kết kinh nghiệm cần tuân theo quy trình gồm các bước sau:

+ Bước chuẩn bị: + Bước thu thập tài liệu:

Thu thập tư liệu về lý luận, vì bất kì một kinh nghiệm, công trình khoa học nào cũng phải dựa trên một cơ sở lý luận, một luận điểm lý thuyết nào đó.

Tập hợp và xử lý các kết quả đã đạt được của kinh nghiệm.

+ Viết kinh nghiệm.

Lập cấu trúc lôgic của bài viết.

Viết kinh nghiệm: thể hiện tính khẳng định quan điểm của mình, có cơ sở khoa học và thực tiễn. Những kinh nghiệm cần đạt những tiêu chuẩn sau:

Tính cấp thiết và tính triển vọng. Có chứa những nhân tố mới. Có kết quả cao và ổn định. Tính tối ưu… Công bố hoặc bảo vệ kinh nghiệm.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cách Thực Hiện Phương Pháp Cấp Cứu Heimlich trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!