Xu Hướng 11/2022 # Các Phương Pháp Tính Chỉ Số / 2023 # Top 11 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Các Phương Pháp Tính Chỉ Số / 2023 # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Các Phương Pháp Tính Chỉ Số / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phản ánh sự biến động của từng đơn vị, hiện tượng cá biệt.

Chỉ số cá thể về chỉ tiêu chất lượng

Trong đó: p 1, p 0: trị số của chỉ tiêu chất lượng của từng phần tử ở kỳ nghiên cứu và kỳ gốc.

Chỉ số này dùng để phản ánh sự biến động về giá cả của từng hiện tượng kinh tế – xã hội.

Chỉ số cá thể về chỉ tiêu khối lượng

Trong đó: q 1, q 0: trị số của chỉ tiêu khối lượng của từng phần tử ở kỳ nghiên cứu và kỳ gốc.

Chỉ số này dùng để phản ánh sự biến động về lượng hàng hoá tiêu thụ của từng mặt hàng.

VD: Trong khi xem xét sự phát triển của ngành công nghiệp ở Việt Nam, ta có bảng số liệu sau:

Tuy nhiên, trong thực tế, khi dùng phương pháp chỉ số để phân tích các hiện tượng kinh tế – xã hội, người ta ít sử dụng phương pháp tính chỉ số cá thể. Do có rất nhiều các nhân tố khác nhau cùng ảnh hưởng đến sự phát triển của một hiện tượng kinh tế – xã hội, vì vậy, nếu dùng chỉ số cá thể thì không thể thấy rõ được mức độ tác động của từng nhân tố đến hiện tượng kinh tế – xã hội đó. Do vậy, người ta thường xuyên sử dụng phương pháp tính chỉ số chung.

Chỉ số chung được tính theo hai phương pháp khác nhau: phương pháp chỉ số tổng hợp và phương pháp chỉ số bình quân.

Phương pháp chỉ số tổng hợp

Phản ánh sự biến động chung của nhiều đơn vị, hiện tượng cá biệt.

Nguyên tắc tính chỉ số tổng hợp:

Khi tính chỉ số tổng hợp, phải chuyển các nhân tố khác nhau của cùng một hiện tượng phức tạp về dạng đồng nhất để có thể tổng hợp và tiến hành so sánh.

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó đến sự phát triển của một hiện tượng kinh tế – xã hội thì phải cố định các nhân tố còn lại. Nhân tố cố định đó đóng vai trò là quyền số của chỉ số.

Chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu chất lượng

Để tính chỉ số tổng hợp về chất lượng (giá cả), chúng ta không thể cộng từng giá của từng mặt hàng khác nhau. VD: trong ngành công nghiệp có rất nhiều các mặt hàng khác nhau như: may mặc, sắt, thép… Nếu có giá cả của từng loại mặt hàng của các ngành trên, ta không thểtính trung bình cộng giản đơn của các chỉ số đơn về giá cả và cách tính đó không xét được đến lượng hàng hoá tiêu thụ khác nhau của từng mặt hàng và lượng hàng hoá đó lại có ảnh hưởng trực tiếp đến biến động chung giá cả khác nhau.

Vì vậy, để nghiên cứu biến động của giá cả, phải cố định lượng hàng hoá tiêu thụ ở một thời kỳ nhất định và việc cố định nhân tố này gọi là quyền số của chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu chất lượng (giá cả).

Nếu chọn chỉ tiêu khối lượng kỳ góc (q 0) làm quyền số, ta có công thức:

Đây là công thức do nhà kinh tế học người Đức tên là Laspeyres đề xuất năm 1864 nên được gọi là chỉ số giá cả của Laspeyres.

Nếu chọn quyền số là lượng hàng hoá tiêu thụ kỳ nghiên cứu:

Công thức này do nhà kinh tế học người Đức là Pasches đề xuất năm 1874, nên được gọi là chỉ số giá cả của Pascher.

Hai công thức (1) và (2) có điểm khác nhau là việc chọn quyền số. Do quyền số khác nhau dẫn đến kết quả tính toán và ý nghĩa kinh tế khác nhau. Trong thực tế, bằng kinh nghiệm lâu năm, ở Việt Nam thường áp dụng công thức chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu chất lượng (giá cả) của Pascher.

Khi giữa công thức (1) và (2) có sự khác biệt đáng kể, ta có thể dùng công thức do nhà kinh tế học Fisher đề xuất năm 1921:

Xuất phát từ việc chỉ số tổng hợp của Laspeyres và Pascher không có tính nghịch đảo và liên hoàn, vì vậy Pisher đã đưa ra công thức (3) thực chất là trung bình nhân của hai chỉ số trên.

Chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu khối lượng

Nguyên tắc tính:

Phải cố định giá ở một thời kỳ nhất định; đây chính là quyền số của chỉ số tổng hợp về khối lượng

Nếu chọn chỉ tiêu chất lượng kỳ gốc (p 0) làm quyền số; ta có công thức:

Công thức (4) gọi là chỉ số tổng hợp về khối lượng của Laspeyres.

Nếu chọn chỉ tiêu chất lượng kỳ nghiên cứu (p 1) làm quyền số, ta có công thức:

Công thức (5) gọi là chỉ số tổng hợp về khối lượng của Pascher.

Xuất phát từ ý nghĩa kinh tế thực tế của lượng chênh lệch tuyệt đối Δpq(q), trong nghiên cứu thống kê ở Việt Nam thường chọn công thức (5) để tính chỉ số tổng hợp về chỉ tiêu khối lượng hàng hoá tiêu thụ nói riêng và chỉ tiêu khối lượng nói chung.

Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng công thức chỉ số tổng hợp về khối lượng của Fisher:

Công thức (6) được dùng phổ biến ở các nước kinh tế thị trường. Tuy nhiên, do hạn chế về vấn đề tính toán lượng chênh lệch tuyệt đối và do yêu cầu liên kết giữa các chỉ số với mục đích phân tích nhân tố không được thực hiện được nên chỉ số này ít được sử dụng trong phân tích nhân tố.

Phương pháp chỉ số bình quân

Bản chất của chỉ số tổng hợp là trung bình gia quyền chỉ số cá thể trong đó quyền số có thể là p 0q 0 hoặc p 1q 1. Phương pháp chỉ số bình quân cho ta kết quả tính toán và ý nghĩa kinh tế hoàn toàn giống với chỉ số tổng hợp.

Như vậy tương ứng với các chỉ số tổng hợp có các chỉ số bình quân.

Chỉ số bình quân cộng

Được dùng để tính chỉ số chung về chỉ tiêu khối lượng:

Chỉ số bình quân điều hoà:

Được dùng để tính chỉ số chung về chỉ tiêu chất lượng.

Phương Pháp Tính Toán Chỉ Số Oee Trong Sản Xuất / 2023

Chỉ số OEE thể hiện mức độ hiệu quả của thiết bị theo tỷ lệ %. Hiệu quả của một thiết bị được đánh giá dựa trên một cách tổng thể của cả 3 yếu tố : thời gian, chất lượng, và tốc độ vận hành.

OEE là gì

Khái niệm OEE được sử dụng hiệu quả trong trường hợp là thước đo điểm chuẩn hoặc là thước đo điểm cơ sở.

Khi được dùng làm điểm chuẩn: OEE được dùng để so sánh hiệu quả của thiết bị sản xuất với các tiêu chuẩn công nghiệp hoặc giữa các ca làm việc trên cùng một thiết bị.

Khi được dùng như điểm cơ sở: OEE theo dõi hiệu suất sử dụng theo thời gian của một thiết bị trong quá trình sản xuất nhằm giúp loại bỏ sự lãng phí.

Phương pháp này phức tạp hơn nhưng chúng lại được nhiều người chọn lựa để đo đếm hiệu quả của thiết bị. Chúng thể hiện rất rõ 3 yếu: Hữu dụng (Availability), Hiệu suất (Performance) và Chất lượng (Chất lượng).

Hệ thống giám sát sản xuất

Tỉ lệ vận hành xét đến các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sử dụng của máy móc, bao gồm tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất theo dự kiến trong một khoảng thời gian đáng kể (thường là một vài phút hoặc lâu hơn) như dừng không có kế hoạch (chẳng hạn như lỗi thiết bị và thiếu hụt nguyên liệu) và việc dừng có kế hoạch (như thời gian chuyển đổi).

Nó được tính bằng công thức:

Tỉ lệ vận hành tính theo thời gian = (Thời gian vận hành lý thuyết – Thời gian dừng máy) : Thời gian vận hành lý thuyết

Tỷ lệ Hiệu suất tính đến yếu tố mất/giảm hiệu suất, bao gồm tất cả các yếu tố khiến thiết bị sản xuất hoạt động ở tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa có thể khi chạy (bao gồm cả Chu kỳ chậm và Quãng dừng nhỏ).

Nó được tính bằng công thức:

Tỷ lệ Hiệu suất = (Thời gian chu kỳ lý tưởng × Tổng sản phẩm) : Thời gian chạy máy

Thời gian chu kỳ lý tưởng là thời gian chu kỳ nhanh nhất mà quá trình của sản xuất có thể đạt được trong điều kiện tối ưu. Do đó, khi nó được nhân với Tổng sản phẩm (Total Count), kết quả sẽ là Thời gian sản xuất Net tức là thời gian nhanh nhất về mặt lý thuyết để sản xuất tổng số sản phẩm theo kế hoạch.

Tỷ lệ hiệu suất có tính đến bất cứ điều gì khiến quá trình sản xuất diễn ra với tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa có thể (bao gồm cả Chu kỳ chậm và Quãng dừng ngắn). Tỷ lệ hiệu suất thường không nên lớn hơn 100%. Nếu đúng như vậy, điều đó có nghĩa Thời gian chu kỳ lý tưởng được đặt không chính xác (quá cao).

Tỷ lệ chất lượng dùng để xét đến yếu tố chất lượng sản phẩm không đảm bảo, không đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, bao gồm cả các sản phẩm được làm lại sau này.

Nó được tính bằng công thức:

Tỷ lệ Chất lượng = Tổng sản phẩm chất lượng : Tổng số sản phẩm đã thực hiện

Nói một cách đơn giản nhất, khái niệm OEE là tỷ lệ của Thời gian Sản xuất Hiệu quả so với Thời gian Sản xuất theo Kế hoạch. Trên thực tế, điểm số được tính như sau:

OEE = Tỷ lệ vận hành × Tỷ lệ hiệu suất × Tỷ lệ chất lượng(Availability x Performance x Quality)

Như vậy, chỉ số OEE tính đến tất cả các tổn thất (Dừng mất thời gian, giảm tốc độ và giảm chất lượng) trong quá trình vận hành máy móc, tạo nên một thước đo thời gian sản xuất thực sự hiệu quả.

Điểm OEE cung cấp một cái nhìn rất có giá trị về quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Nó vẽ nên một bức tranh chính xác về hiệu quả sản xuất. Và, nó giúp doanh nghiệp dễ dàng theo dõi các cải tiến tại quá trình sản xuất theo thời gian.

Điểm OEE không cung cấp là bất kỳ thông tin chi tiết nào về nguyên nhân cơ bản của năng suất bị mất. Đây là vai trò của Tính hữu dụng, Hiệu suất và Chất lượng. Chỉ cần dựa vào công thức này, doanh nghiệp cũng có thể nhìn thấy hiệu quả trong sản xuất như thế nào (Chỉ số OEE) và các vấn đề khác trong doanh nghiệp như Tính Hữu dụng, hiệu suất và chất lượng ảnh hưởng như thế nào đến các khoản tổn thất.

Giải pháp IoT là gì

Máy móc là một khoản đầu tư lớn mà các công ty luôn muốn thực hiện các chiến lược để đạt được lợi tức đầu tư tối đa. Doanh nghiệp có thể chứng minh được giá trị của khoản đầu tư vào hệ thống máy móc thiết bị thông qua số liệu OEE được đo đạc. Vào thời gian đầu trong quá trình sản xuất; hiệu quả sử dụng các thiết bị sẽ chỉ đóng góp một phần nhỏ trong lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình phát triển sản xuất; khi quy mô và các khoản đầu tư vào máy móc nhiều lên; các lãng phí hay tổn thất trong sản xuất thiết bị càng giảm; sẽ giúp doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn.

Đối với hoạt động sản xuất, việc cắt giảm tổn thất trong sản xuất sẽ đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu dây chuyền sản xuất thiếu hiệu quả; doanh nghiệp cần các quy trình và phương pháp cần thiết; để giúp tối đa hóa cơ sở vật chất. Dựa trên các thông tin nhận được qua chỉ số OEE; các nhà quản lý và phân tích có thể xác định bất kỳ ràng buộc hoặc đình trệ nào trong sản xuất.

Chỉ số OEE cho phép doanh nghiệp hình dung hiệu suất sản xuất một cách dễ dàng. Điều này được thực hiện bằng cách sử dụng các công thức tính toán; và quan sát bất kỳ tổn thất sản xuất nào. Từng yếu tố của sản xuất như tính hữu dụng; tính hiệu quả và chất lượng sẽ được thể hiện rõ ràng; qua các con sổ được tính toán chi tiết. Nó cho phép doanh nghiệp có thể nhận thấy tình trạng sản xuất hiện tại; và các lĩnh vực mà cơ sở cần cải thiện kịp thời.

Doanh nghiệp không thể cải thiện hoạt động sản xuất mà theo kiểu dò dẫm tìm đường. Đó là lý do tại sao sử dụng dữ liệu trực tiếp về trạng thái thiết bị; có thể hỗ trợ các nhà sản xuất vận hành hiệu quả dây chuyền; máy móc thiết bị nhằm giảm thời gian dừng không có kế hoạch; và tăng tốc độ sản xuất trước hoặc sau thời gian dừng có kế hoạch. Các phân tích về mối tương quan giữa hiệu suất; và tổn thất hiệu suất thể hiện cả khả năng thực hiện bảo trì trong tương lai; giúp tiết kệ chi phí đầu tư cho trang thiết bị sản xuất.

Hiệu suất thực tế của máy móc tương quan trực tiếp với việc hiểu liệu máy có hoạt động hiệu quả hay không. Nó cũng dự báo được khả năng thay thế các thiết bị máy móc doanh nghiệp có thể phải thực hiện trong tương lai. Với chỉ số OEE, cơ sở sản xuất có thể thực hiện các hoạt động chi bảo trì phòng ngừa; bảo dưỡng; sửa chữa lỗi máy kịp thời; giảm thiểu nguy cơ mất mát lớn hơn về sau.

Chỉ Số Vnindex Và Cách Tính Toán Chỉ Số Vnindex / 2023

Thị trường cổ phiếu được hình thành bởi tập hợp rất nhiều cổ phiếu khác nhau trên sàn giao dịch. Để có một cái nhìn toàn thể bố cục của thị trường đang diễn biến như thế nào thì chúng ta không thể nói riêng lẻ từng cổ phiếu được. Vì vậy, khái niệm thị trường chung được sinh ra để giải quyết vấn đề rất quan trọng là Tổng hợp tất cả Giá cổ phiếu trên thị trường lại và đưa ra một con số chung nhất đại diện cho toàn bộ thị trường. Như vậy, nhà đầu tư sẽ có một cái nhìn tổng thể về xu hướng thị trường: đang tăng điểm, đang giảm điểm hay đang không có thay đổi gì. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định đầu tư vì chính bản thân thị trường chung sẽ ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư và diễn biến cổ phiếu.

Hiện nay ở Việt Nam, chúng ta có 3 sàn giao dịch chứng khoán là Sàn thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), sàn Hà Nội (HNX) và sàn Upcom. Tương ứng với 3 sàn giao dịch sẽ có 3 chỉ số thị trường là: VN-Index của sàn HOSE, HNX-Index của sàn HNX và UPCOM của sàn Upcom. Trong bài viết này, MBS Hải Phòng sẽ giới thiệu đến các bạn 2 chỉ số chính là VN-Index và HNX-Index và cách tính toán của 2 chỉ số này. Chỉ số Upcom sẽ mang ý nghĩa và cách tính toán tương tự. Nhà đầu tư có thể theo dõi chỉ số thị trường trên các trang web về tài chính như: cafef, vietstock, stockbiz,….

1. Khái niệm chỉ số VnIndex

Chỉ số VN-Index là chỉ số chứng khoán chính thức của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Chỉ số VN-Index được xây dựng để phản ánh diễn biến giá của toàn bộ cổ phiếu đang niêm yết trên sàn HOSE. Tính đến Tháng 8/2020, đã có 384 mã cổ phiếu được niêm yết trên HOSE với tổng số lượng cổ phiếu là 90,7 tỷ cổ phiếu.

Chỉ số HNX-Index: tương tự như VN-Index, chỉ số HNX-Index là chỉ số chính thức của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX). Chỉ số HNX-Index được xây dựng để phản ánh diễn biến giá của toàn bộ cổ phiếu niêm yết trên sàn HNX. Tính đến Tháng 8/2020, đã có 355 mã cổ phiếu được niêm yết trên HNX với tổng số lượng cổ phiếu là 13,9 tỷ cổ phiếu.

Các chỉ số thị trường chung trên bảng giá

Ấn chọn vào ảnh để xem rõ hơn

2. Cách tính toán chỉ số thị trường chung

Công thức tổng quát để tính toán điểm số chung của thị trường là:

Công thức tổng quát tính chỉ số thị trường

Ấn chọn vào ảnh để xem rõ hơn

Trong đó:

P1i: Giá thị trường hiện hành của cổ phiếu i, lấy giá đóng cửa của phiên giao dịch gần nhất

Q1i: Số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i

P0i: Giá thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu i, lấy giá đóng cửa của cổ phiếu i vào ngày giao dịch đầu tiên

Q0i: Số lượng niêm yết vào ngày gốc của cố phiếu i

i= 1,2,…,n

Một cách tổng quát, chỉ số VnIndex được tính bằng cách lấy tổng giá trị thị trường của các cổ phiếu trên sàn HOSE tại thời điểm cần tính chia cho tổng giá trị thị trường tại thời điểm gốc. Mỗi quốc gia lại có một cách lấy giá trị thị trường tại thời điểm gốc khác nhau. Ở Việt Nam, cả 3 sàn giao dịch HOSE, HNX và Upcom đều lấy giá trị thị trường tại thời điểm gốc là 100.

Ấn chọn vào ảnh để xem rõ hơn

Kết thúc phiên giao dịch đầu tiên, tổng giá trị vốn hóa thị trường là 474 tỷ VND. Người ta lấy giá trị vốn hóa sau phiên giao dịch đầu tiên này là gốc của chỉ số VnIndex, tương đương 100 điểm. Ngày tiếp theo, chúng ta có phiên giao dịch thứ 2 với kết quả như sau:

Ấn chọn vào ảnh để xem rõ hơn

Kết thúc phiên giao dịch thứ 2, cổ phiếu B vẫn giữ nguyên mức giá là 17.000 VND/cổ phiếu nên Giá trị thị trường của Công ty B vẫn giữ nguyên 204 tỷ VND. Cổ phiếu A tăng giá từ 15.000 VND/cp lên 15.500 VND/cp làm cho giá trị thị trường của Công ty A tăng từ 225 tỷ VND lên 232,5 tỷ VND (tăng 7,5 tỷ VND tương đương 3,33%). Cổ phiếu C giảm giá từ 10.000 VND/cp xuống 9.500 VND/cp làm cho giá trị thị trường của Công ty C giảm từ 45 tỷ VND xuống còn 42,75 tỷ VND (giảm 2,25 tỷ tương đương 5%). Tổng kết lại, sau ngày giao dịch thứ 2, tổng vốn hóa thị trường tăng lên một lượng là: 7,5 tỷ – 2,25 tỷ = 5,25 tỷ VND, đạt 479,25 tỷ VND. Áp dụng công thức tổng quát, điểm số thị trường sau phiên thứ 2 là: (479,25/474)x100 = 101,11 điểm, tương đương mức tăng 1,11%. Đến đây, các bạn đã thấy thực tế chỉ số VnIndex, HNX-Index được tính toán rất đơn giản. Khó khăn là quy mô thị trường ngày càng rộng ra thì phép toán sẽ cồng kềnh hơn một chút.

Các Phương Pháp Tính Gdp / 2023

Kết quả

Các phương pháp tính GDP:

1. Phương pháp tính theo chi tiêu.

Phương pháp này người ta tính bằng cách cộng các chi tiêu lại:

GDP = Y = C + I + G + NX

– Chi tiêu tiêu dùng (C): Bao gồm tất cả các chi tiêu cho sản phẩm và dịch vụ do các xí nghiệp sản xuất ra và bán cho các hộ gia đình.

– Chi tiêu đầu tư (I) : Tổng vốn đầu tư phát triển xã hội trong kỳ. Vốn đầu tư phát triển xã hội bao gồm:

* Vốn đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm vốn xây lắp, vốn mua sắm thiết bị, vốn xây dựng cơ bản khác, vật nuôi để kéo cày, làm giống…

– Xuất khẩu ròng (NX) là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế. Đây là một chi tiêu phản ánh mối quan hệ kinh tế đối với nước ngoài của mốt quốc gia. GDP tính theo phương pháp chi tiêu là GDP tính theo giá thị trường vì chi tiêu được thanh toán theo giá thị trường.

2. Phương pháp tính theo thu nhập. GDP = Y = Tiền lương + tiền lãi + tiền thuê + lợi nhuận.

Việc tính GDP theo thu nhập còn gọi là GDP tính theo giá yếu tố vì những khoản này các xí nghiệp chi trả cho việc sử dụng nguồn lực phục vụ cho sản xuất. Nếu nền kinh tế không có chính phủ thì việc tính GDP theo giá thị trường hoặc theo giá yếu tố sẽ cho cùng một kết quả. Nhưng khi có chính phủ thì cần có những điều chỉnh để GDP tính theo thu nhập giống với GDP tính theo giá thị trường.

GDP = Tổng thu nhập = Lương + Lãi + Tiền thuê + Lợi nhuận + Thuế gián thu + khấu hao . 3. Phương pháp tính theo giá trị gia tăng.

Phương pháp tính theo giá trị gia tăng là tổng cộng tất cả giá trị gia tăng của nền kinh tế trong một thời kỳ.

Tổng sản phẩm quốc nội = Giá trị tăng thêm + thuế nhập khẩu Hoặc GDP = Giá trị sản xuất – chi phí trung gian + thuế nhập khẩu

– Giá trị tăng thêm của toàn bộ ngành kinh tế được xác định cho cả nước và cho từng vùng lãnh thổ và bằng tổng giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế và thành phần kinh tế.

– Giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế bao gồm:

* Khấu hao tài sản cố định.

* Giá trị thặng dư

* Thu nhập hỗn hợp

– Giá trị gia tăng của một xí nghiệp là chênh lệch giữa giá trị sản lượng của xí nghiệp và giá trị các yếu tố vật chất mà xí nghiệp mua của các xí nghiệp khác.

Nguồn: TS. Nguyễn Tri Khiêm (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Phương Pháp Tính Chỉ Số / 2023 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!