Xu Hướng 2/2023 # Các Loại Mụn Cóc: Điều Trị Và Nguyên Nhân Bị # Top 6 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Các Loại Mụn Cóc: Điều Trị Và Nguyên Nhân Bị # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Các Loại Mụn Cóc: Điều Trị Và Nguyên Nhân Bị được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Các Loại Mụn Cóc: Điều Trị Và Nguyên Nhân bị

Các loại mụn cóc là do virus trong họ Human papilloma virus (HPV) gây ra. Xuất hiện của mụn cóc phụ thuộc vào vị trí lây nhiễm virus trên da. Mụn cóc Palmar xuất hiện trên tay, mụn cóc Plantar ảnh hưởng đến bàn chân.

Mụn cóc là một sự tăng trưởng của các u nhú nhỏ với kết cấu thô và có thể xuất hiện ở bất cứ đâu trên cơ thể. Nhìn trông giống như một đám hoa súp lơ nhỏ.

Trẻ em và thanh thiếu niên có nguy cơ bị mụn cóc cao hơn người lớn. Điều này là do hệ thống miễn dịch của người lớn có khả năng ngăn chặn sự phát triển mục cóc theo thời gian tốt hơn.

Những người có hệ thống miễn dịch yếu, sức khỏe kém sẽ có nhiều khả năng bị mụn cóc hơn.

Thông tin chung về mụn cóc

Mụn cóc thông thường có bề mặt cứng, nổi, sần sùi và có thể xuất hiện giống như súp lơ. Mụn cóc có thể xảy ra ở bất cứ đâu trên da, nhưng chúng phổ biến nhất ở đốt ngón tay, ngón chân, khuỷu tay, đầu gối và bất kỳ khu vực nào có da bị tổn thương.

Mụn cóc thông thường là các khối u nhỏ lành tính (các u mụn) có bề mặt sần sùi, màu vàng, đôi khi có màu sẫm (nâu hoặc xám đen), có kích thước to nhỏ khác nhau.

Các nốt mụn cóc thường mọc ở tay, chân. Có một vài chủng virus gây ra mụn cóc trên, trong và xung quanh bộ phận sinh dục của bạn.

Ở phụ nữ, những mụn cóc này có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung , một căn bệnh có thể gây tử vong.

Nếu bạn nghĩ rằng bạn bị mụn cóc sinh dục hoặc nghĩ rằng bạn đã tiếp xúc với chúng, bạn nên đi khám Bác sĩ Nguyễn Thị Thoàny.

Các loại mụn cóc

Mụn cóc thông thường

Có hình dạng như những cục sẩn nhô trên da, bề mặt sần sùi, có kích thước từ 2mm đến vài chục mm, có màu xám.

Thường xuất hiện ở trên ngón tay, lòng bàn chân, dưới móng chân và ở bất kỳ khu vực nào có da bị xước.

Mụn cóc chân (mụn cóc Plantar)

Loại mụn cóc này chủ yếu mọc ở bàn chân, các nốt mụn có thể mọc thành cụm, có thể có chấm đen.

Sẽ thường thấy đau khi đi bộ do mụn phát triển vào bên trong.

Mục cóc phẳng (Plane warts)

Các nốt sẩn nhỏ hơi nhô cao trên mặt da, bề mặt mịn, bằng phẳng, kích thước 1 – 5mm, màu hồng da, mọc ở mặt, cánh tay, lưng bàn tay, cổ.

Mụn cóc Filiform

Có hình dạng dài và mỏng. Phát triển quanh miệng, mắt và mũi, đôi khi ở trên cổ hoặc dưới cằm, có màu da.

Mụn cóc Mosaic

Các mụn cóc mọc thành chùm ở lòng bàn chân, gót chân của người bệnh.

Mụn cóc sinh dục

Hay còn gọi là bệnh sùi mào gà, nguyên nhân là do lây nhiễm virus qua đường tình dục.

Các nốt mụn có dạng như hình mào gà, do một số chủng HPV gây ra mụn cóc sinh dục trên, trong hoặc xung quanh bộ phận sinh dục.

Những ai dễ bị?

Những người mắc bệnh da mạn tính, chẳng hạn như bệnh chàm, vẩy nến

Những người có hệ miễn dịch kém, như nhiễm HIV hoặc đang dùng thuốc sinh học

Những người có thói quen cắn móng tay

Trẻ em và thanh niên vì hệ thống miễn dịch chưa được xây dựng hệ thống phòng thủ chống lại nhiều loại virus.

Khi nào cần đi gặp bác sĩ?

Xuất hiện mụn cóc ở các bộ phận trên cơ thể như miệng, lỗ mũi, bộ phận sinh dục

Có dấu hiệu chảy máu, nhiễm trùng, mưng mủ hoặc bong vảy.

Các nốt mụn phát triển với số lượng lớn và kích thước lớn kèm màu sắc lạ.

Việc điều trị không có hiệu quả, bệnh tái phát trở lại.

Điều trị mụn cóc

Một phần ba trẻ em được ước tính có mụn cóc, nhưng các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng 50% trong số này biến mất trong vòng một năm và 70% đã biến mất sau 2 năm.

Tuy nhiên, nếu chúng không biến mất, hoặc nếu mụn cóc gây lo ngại, thì cần có sự hỗ trợ của bên y tế.

Kiểm tra mụn cóc, sẽ hỏi về tiền sử gia đình và lấy một số mô để xét nghiệm. Tất cả các phương pháp điều trị mụn cóc để gây kích ứng da và lấy các tế bào chống nhiễm trùng của cơ thể để loại bỏ mụn cóc.

Những phương pháp điều trị có sẵn:

Liệu pháp quang động dao LEEP

Kích thích một lượng oxy lớn chiếu lên tổ chức virus nhằm loại bỏ bên trong và phá hủy các khối u nhú sùi mào gà trên bề mặt da.

Ánh sáng đỏ có hiệu quả loại bỏ mô bệnh và tăng tốc độ tái tổ chức mô mới không mang virus một cách tối ưu.

Sử dụng acid salicylic

Thuốc có tác dụng phá hủy, bong tróc các tế bào sừng cùng virus ở mụn cóc. Phương pháp này cần nhiều thời gian mới có thể khiến các nốt mụn biến mất. Tỷ lệ khỏi bệnh của phương pháp này là 70 – 80%.

Điều quan trọng là phải bảo vệ da xung quanh mụn cóc trước khi áp dụng phương pháp điều trị này vì axit salicylic có thể phá hủy làn da khỏe mạnh. Không áp dụng cho mặt.

Đốt điện

Phương pháp này áp dụng cho trường hợp mụn cóc dưới 1cm và mụn mọc ở các vị trí khó tiểu phẫu như kẽ ngón tay, chân. Bác sĩ sẽ sử dụng dòng điện để đốt mụn cóc.

Thời gian thực hiện nhanh gọn, đơn giản. Tuy nhiên, thời gian lành vết thương lâu, phải chú ý chăm sóc vết thương vì rất dễ bị nhiễm trùng.

Phương pháp áp lạnh

Sử dụng một loại chất lỏng lạnh, thường là nito bôi lên nốt mụn để phá hủy chúng.

Phương pháp này có thể gây ra các đốm đen ở những người có làn da tối.

Tiểu phẫu

Áp dụng cho trường hợp mụn có kích thước dưới 2cm và ở vị trí bằng phẳng như lòng bàn chân, cạnh bàn chân, gót chân…

Bác sĩ sẽ sử dụng thuốc gây tê để làm tê mụn cóc, sau đó sử dụng tiểu phẫu để loại bỏ mụn cóc ra khỏi da.

Sử dụng băng keo

Dùng một miếng băng keo che mụn cóc lại trong vài ngày. Nên ngâm mụn cóc dưới nước khoảng 5 phút, sau đó chà xát lên khu vực này để loại bỏ phần tế bào chết.

Tiêm bleomycin

Tiêm bleomycin vào mụn cóc để loại bỏ virus, ngăn chặn sự lây lan của các tế bào bị nhiễm bệnh. Bleomycin cũng có thể dùng để trị ung thư.

Nguyên nhân bị

Thủ phạm chính là Human Papilloma Virus (HPV). Loại virus này có hơn 150 loại và chỉ có một vài chủng virus gây ra mụn cóc sinh dục ở nam giới và nữ giới.

Những vết xước nhỏ trên da có thể tạo điều kiện cho virus xâm nhập gây nên mụn cóc.

Virus gây mụn cóc có thể lây lan qua việc da tiếp xúc với da và lây lan qua việc sử dụng chung đồ.

Virus có thể lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể qua việc gãi, cạo lông.

Những người có hệ miễn dịch yếu có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh, hoặc bị các bệnh da mạn tính.

Việc phát hiện mụn cóc sinh dục khá khó vì chúng thường mất vài tháng kể từ khi bị lây nhiễm.

Mụn cóc sinh dục

Mụn cóc sinh dục hay là bệnh sùi mào gà là bệnh xuất hiện các nốt mụn nhỏ, đường kính từ 1 – 2mm, màu hồng, mềm và nhô hẳn lên bề mặt da, không đau, hơi ngứa, các nốt mụn thường mọc rải rác.

Mụn cóc sinh dục xuất hiện đầu tiên ở vùng da bị nhiễm virus, niêm mạc đường sinh dục bao gồm âm hộ, âm đạo, dương vật, bao quy đầu, miệng, các mép trong bộ phận sinh dục, đôi khi mọc ở quanh hậu môn.

Lây lan nhiều nhất là do quan hệ tình dục không an toàn, lây nhiễm qua vết thương hở trên da, lây truyền từ mẹ sang con.

Mục cóc sinh dục gây ngứa ngáy, khó chịu. Ở nam giới gây tắc ống dẫn tinh, nữ giới có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung dẫn đến khó thụ thai, gây vô sinh hiếm muộn.

Mụn cóc sinh dục ở phụ nữ khi sinh thường sẽ dễ bị lây nhiễm, ảnh hưởng tới tính mạng và sự phát triển của bé.

Khi đi khám tùy vào tình trạng bệnh ở hiện tại mà bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị cụ thể.

Lưu ý là bệnh có nguy cơ cao tái phát sau khi chữa trị nếu vẫn tiếp tục quan hệ với người bị mụn cóc sinh dục. Vì vậy phải điều trị cùng lúc cho cả bạn tình.

Phòng ngừa mụn cóc

Tiêm vacxin phòng ngừa virus HPV cho nam và nữ ở độ tuổi 9 – 26.

Có đồ dùng cá nhân riêng là dụng cụ cắt móng tay, bàn chải đánh răng, que lấy ráy tai, dao cạo.

Ở những khu vực vệ sinh công cộng nên mang dép, găng tay riêng.

Bỏ ngay thói quen xấu cắn móng tay vì đây là khu vực có rất nhiều vi khuẩn.

Quan hệ tình dục an toàn, một vợ một chồng. Nên sử dụng bao cao su để giúp ngăn ngừa virus và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Nếu nghi ngờ có tiếp xúc với mụn cóc thì nên rửa tay sạch sẽ bằng xà bông diệt khuẩn và đi khám ngay.

Hạn chế tối đa tiếp xúc trực tiếp với vùng da của người bị bệnh.

Mụn cóc làm mất thẩm mỹ, gây ra khó chịu trên cơ thể và tâm lý bất an, một số rất ít trường hợp có thể tự biến mất và điều trị là cách xử lý để loại bỏ các nốt mụn này an toàn.

Rụng Tóc: Nguyên Nhân Và Các Biện Pháp Điều Trị

Thời gian giai đoạn phát triển của lông/tóc thường vào khoảng từ 2 đến 6 năm, trung bình là 3 năm (1.000 ngày). Thời gian của giai đoạn trung gian từ 1 đến 2 tuần. Còn ở giai đoạn ngừng phát triển kéo dài khoảng 3 đến 5 tháng (trung bình là 100 ngày) trước khi tóc/lông rụng đi.

Ở da đầu bình thường, khoảng 85 – 90% tóc ở giai đoạn phát triển, 10 – 15% ở giai đoạn ngừng phát triển, giai đoạn trung gian thường khoảng 1%. Nếu tính trung bình da đầu có khoảng 100.000 sợi tóc, thì có khoảng 100 sợi tóc sẽ rụng hàng ngày. Tốc độ phát triển của tóc da đầu vào khoảng 0,37 mm/ngày. Trái lại với quan điểm thường cho rằng việc cạo râu/tóc hoặc chu kỳ kinh nguyệt sẽ tác động đến sự phát triển của lông/tóc. Vậy nếu như một người không cắt tóc thì sợi tóc có thể phát triển trung bình tới độ dài 25 đến 100 cm, tuy nhiên cá biệt có một số người tóc có thể dài tới 170 cm.

Lông/tóc gồm các loại sau: lông tơ (xuất hiện ở thời kỳ trong bào thai và vài tháng sau đẻ), lông (là sợi lông ở thân mình, tay, chân) và tóc (có thể có ở tất cả vị trí da trên cơ thể trừ lòng bàn tay, bàn chân, môi, móng, môi bé sinh dục, thân dương vật và bao da quy đầu). 

Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây tóc rụng, nhưng chủ yếu được chia thành 2 loại nguyên nhân: rụng tóc không sẹo và rụng tóc có sẹo. Việc khám, đánh giá lâm sàng, các xét nghiệm hỗ trợ giúp chẩn đoán nguyên nhân rụng tóc. Ngoài ra, rụng tóc có thể do các nguyên nhân như: giảm phát triển của tóc, tăng quá trình rụng tóc, tóc gẫy, hay sự chuyển từ tóc sang lông.

I. Rụng tóc không sẹo

1. Rụng tóc thể mảng

Rụng tóc thể mảng thường biểu hiện với triệu chứng tóc rụng nhanh, rụng hoàn toàn để lại một hoặc nhiều dát hình tròn hoặc oval ở da đầu không có tóc, đôi khi có thể thấy xuất hiện ở vùng râu, lông mày, mi mắt… Kích thước các dát rụng tóc này thường từ 1 – 5 cm, đôi khi còn thấy một số sợi tóc bình thường hoặc sợi tóc bạc trên bề mặt dát rụng tóc. Khi khám tại vùng rìa của dát tóc rụng có thể thấy sợi tóc ngắn dạng “dấu chấm than”. 10% các trường hợp rụng tóc thể mảng nặng có biểu hiện kèm theo ở móng như chấm, đường lõm ngang hoặc dọc.

Rụng tóc thể mảng đôi khi tiến triển nặng gây rụng tóc toàn bộ và rụng toàn thể lông tóc.

Một số trường hợp rụng tóc thể mảng có thể tự khỏi mà không điều trị gì. 

Tiêm corticoid tại chỗ: phương pháp này được cho là lựa chọn đầu tiên, hiệu quả và kinh tế nhất. Thuốc hay sử dụng là Triamcinolone, với liều điều trị ở đây thường áp dụng là 5mg/ml. ở những trường hợp rụng tóc nhiều, tiêm tại chỗ ít đem lại kết quả hoàn toàn.

Miễn dịch tại chỗ: một số chất được sử dụng cho rụng tóc thể mảng với diện tích lớn là DNCB (dinitrochlorobenzene), SADBE (squaric acid dibutyl ester), DPCP (diphenylcyclopropenone). Tuy vậy, các thuốc này đều là thuốc có nhiều tác dụng phụ như đỏ da, tróc vảy, thâm nhiễm.

Bôi corticoid tại chỗ: chỉ sử dụng corticoid dạng mạnh, nhưng kết quả thường đạt được ít như mong muốn.

PUVA: là phương pháp sử dụng psoralen dạng uống hoặc dạng bôi tại chỗ, phối hợp với chiếu ánh sáng tử ngoại bước sóng dài (UVA). Kết quả đạt được chỉ thấy sau khoảng 30 lần chiếu với liều UVA cao.

Bôi Minoxidil 2% – 5%: có thể sử dụng dưới dạng chỉ định hỗ trợ điều trị, kích thích quá trình mọc tóc.

Các thuốc khác như Cyclosporine, Tacrolimus… cũng có chỉ định trong điều trị rụng tóc thể mảng.

2. Rụng tóc do tác động lên các giai đoạn phát triển tóc

Rụng tóc ở giai đoạn ngừng phát triển: là sự rụng quá mức các nang tóc ở giai đoạn ngừng phát triển. Bình thường tỷ lệ tóc ở giai đoạn phát triển với giai đoạn ngưng phát triển là 10:1. Nhưng ở rụng tóc này, các sợi tóc ở giai đoạn ngưng phát triển nhanh chóng bị rụng đi nên tỷ lệ này giảm xuống. Một số nguyên nhân thường gặp ở đây là: sau đẻ 3 – 5 tháng (giai đoạn này, hầu hết các tóc chuyển từ giai đoạn phát triển sang giai đoạn ngưng phát triển), phẫu thuật, suy dinh dưỡng, sốt kéo dài, stress tâm lý nặng…

Rụng tóc ở giai đoạn phát triển: do ức chế tóc ở giai đoạn phát triển. Rụng tóc có thể do các nguyên nhân như điều trị hóa chất, tia xạ, ngộ độc, suy dinh dưỡng…

Việc điều trị rụng tóc này chủ yếu dựa vào tìm nguyên nhân và loại trừ nguyên nhân gây nên rụng tóc.

3. Rụng tóc nội tiết

Rụng tóc nội tiết hay rụng tóc Androgenetic là loại rụng tóc hay gặp nhất ở cả hai giới và thường mang tính chất gia đình. Nguyên nhân của rụng tóc là tăng nhạy cảm quá mức của các receptor androgen (hormon sinh dục nam) và a-reductase ở vùng da đầu phía trước cao hơn so với ở vùng da đầu phía sau.

Ở nam, rụng tóc thể này được gọi là rụng tóc kiểu hói nam. Tóc thường rụng bắt đầu ở vùng trên của thái dương và rụng dần lên trên, tạo nên kiểu chân tóc hình “M” và có thể tiến triển thành hói toàn bộ vùng trán tới đỉnh.

Ở nữ, rụng tóc được gọi là theo kiểu hói nữ. Tóc trở nên thưa dần trên toàn bộ da đầu, nhưng chủ yếu vùng đỉnh. Vùng tóc ở phía trước thường ít rụng hơn, nên không thấy thay đổi đường chân tóc phía trán. Thường rụng tóc kiểu hói nữ không gây hói toàn bộ.

Các phương pháp và thuốc giúp điều trị rụng tóc nội tiết:

Minoxidil: dung dịch 2% thường chỉ định cho nữ và 5% chỉ định cho nam. Tốt nhất sử dụng dạng dung dịch bôi lên da đầu 2 lần/ngày.

Finasteride: Theo FDA của Mỹ thì Finasteride có chỉ định sử dụng trong điều trị rụng tóc nội tiết của cả nam và nữ. Nhưng trên thực thực hành, Finasteride chỉ sử dụng cho bệnh nhân nam. Hiệu quả điều trị của Finasteride được đánh giá tốt đặc biệt ở nhóm bệnh nhân ở độ tuổi 18 – 40. Liều sử dụng 1 mg/ngày và thời gian điều trị trong 6 tháng đến 1 năm.

Cấy chuyển tóc: phương pháp được sử dụng khá nhiều ở các nước phát triển. Cấy chuyển tóc có thể bằng phương pháp chuyển vạt da đầu, cấy chuyển dạng đảo, hoặc cấy chuyển từng sợi.

Các thuốc khác có thể sử dụng trong rụng tóc nội tiết là Dutasteride, Cyproterone acetate, Flutamide, Spironolactone,…

4. Tật nhổ tóc

Tật nhổ tóc là do thói quen người bệnh thường nhổ tóc, lông mày hoặc mí mắt. Tật nhổ tóc thường gặp ở trẻ gái dưới 10 tuổi, nhưng cũng có thể gặp ở trẻ trai và người lớn tuổi.

Biểu hiện là mảng tóc rụng, giới hạn của mảng này không rõ. Tóc rụng ở mảng không đều, với các sợi tóc có chiều dài khác nhau. Bề mặt mảng tóc rụng lởm chởm với các sợi tóc chưa nhổ được hết. Người bệnh thường than phiền cảm giác đau, khó chịu nang lông, hoặc vùng da đầu nên cần nhổ tóc để đỡ đau.

Việc điều trị tật nhổ tóc thường dựa vào các biện pháp tâm lý, điều chỉnh hành vi. Một số thuốc có thể áp dụng là Clomipramine, Fluvoxamine, Fluoxetine, Paroxetine…

5. Rụng tóc khác

Rụng tóc giang mai: ở giang mai thời kỳ thứ hai, các tổn thương ngoài da là đào ban, sẩn cũng có thể xuất hiện ở vùng da đầu. Những tổn thương dẫn đến rụng tóc theo kiểu “rừng thưa”. Nhiều tác giả khuyên rằng: ở tất cả các thể rụng tóc lan tỏa đều cần phải làm xét nghiệm RPR để loại trừ nguyên nhân rụng tóc do bệnh giang mai gây nên.

Rụng tóc do nấm ở da đầu: Nấm da đầu thường biểu hiện là các mảng đỏ, nhiều vảy, tóc rụng theo kiểu đứt gẫy thân tóc ngay trên chân tóc da đầu. Khi nhổ chân tóc còn lại, thấy có vảy bám xung quanh chân tóc.

II. Rụng tóc có sẹo

Rụng tóc có sẹo là biểu hiện của rụng tóc kèm theo sự phá hủy hoặc mất đi của nang tóc. ở giai đoạn cấp tính, ngoài rụng tóc còn có các biểu hiện như sẩn đỏ, mảng đỏ, sẩn nang lông, nút sừng nang lông, hoặc mụn mủ. Tuy nhiên, ở những trường hợp viêm sâu thì không thấy các biểu hiện trên mà đôi khi giống như rụng tóc không sẹo. Hầu hết các trường hợp rụng tóc sẹo cần phải sinh thiết để chẩn đoán xác định và đưa ra tiên lượng về khả năng mọc tóc sau điều trị. 

Các quá trình viêm của da đầu có thể do nhiễm khuẩn vi khuẩn, do nấm, do bệnh lý da tại vùng da đầu gây phá hủy các nang tóc đều có thể làm cho tóc rụng và để lại sẹo trên vùng tóc rụng đó. Nếu như quá trình này chỉ mới bắt đầu, việc điều trị kịp thời sẽ giúp cho tóc phục hồi và mọc lại bình thường. Tuy vậy, nếu phá hủy toàn bộ nang tóc tại vùng tổn thương thì điều trị có thể giúp làm khỏi bệnh da tại chỗ, còn tóc khó có thể mọc lại được. Điều trị rụng tóc có sẹo dựa chủ yếu vào các nguyên nhân gây rụng tóc. ở mỗi nguyên nhân khác nhau sẽ có cách xử trí khác nhau. 

1. Rụng tóc do lupus đỏ

Rụng tóc trong lupus đỏ thường biểu hiện với 2 dạng lâm sàng:

Tổn thương rụng tóc có sẹo là ban đỏ, teo da, nút sừng nang lông, giãn mạch, tăng và giảm sắc tố tại chỗ. Bệnh nhân có biểu hiện rụng tóc này có thể hoặc không kèm theo biểu hiện khác của lupus đỏ hệ thống và lupus đỏ kinh.

Biểu hiện tóc khô, thưa, dễ gẫy ở vùng phía trước da đầu trong lupus đỏ hệ thống.

Khi sinh thiết tổn thương rụng tóc do lupus da mạn tính thường thấy tập trung nhiều tế bào lympho bào, dày sừng và nút sừng nang lông.

2. Rụng tóc do lichen phẳng nang lông

Biểu hiện là các sẩn hoặc dát đỏ quanh nang lông. Các sẩn nang lông có thể lan ra thân mình và các chi. Vùng tổn thương tóc rụng có thể thấy các điểm sẹo teo. 

Ngoài ra, còn các tổn thương sẩn hình đa giác, màu đỏ tím ở vùng cổ tay.

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào sinh thiết thấy hình ảnh thâm nhiễm điển hình của lichen phẳng ở trung bì.

3. Rụng tóc do viêm nang lông decalvans

Viêm nang lông mụn mủ, vết trợt, vảy tiết tái phát nhiều lần, gây rụng tóc có sẹo màu trắng ngà. 

Nguyên nhân có thể do phản ứng quá mạnh của cơ thể đối với các nhiễm khuẩn như tụ cầu.

4. Rụng tóc do kerion celsi

Hiện tượng nấm da đầu gây phản ứng mạnh, tạo nhiều tầng mủ ở da đầu. Kết quả quá trình viêm này gây rụng tóc có sẹo. 

Bệnh Kerion celsi thường gặp ở trẻ nhỏ, sống ở gia đình có nuôi súc vật như chó, mèo. 

Điều trị cần phối hợp kháng sinh chống nấm với trích rạch dẫn lưu mủ tại chỗ.

5. Rụng tóc do trứng cá sẹo lồi

Thường hay gặp ở người nam, trẻ tuổi, da sẫm màu, với hình thành các sẩn dạng trứng cá ở vùng gáy. 

Sau các tổn thương này tiến tiển thành dạng sẹo lồi gây phá hủy các nang tóc.

Điều trị bằng tiêm corticoid tại chỗ, vitamin A acid, kháng sinh, phẫu thuật cắt bỏ dưới nang tóc.

6. Rụng tóc giả thể mảng của Brocq

Hiện tượng rụng tóc giống như thể mảng, không có hiện tượng viêm, hay dày sừng nang lông. Tuy vậy, vùng rụng tóc này tiến triển lặng lẽ gây nên sẹo tại chỗ và phá hủy các nang tóc.

7. Nguyên nhân khác

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác gây rụng tóc sẹo như 

Do bỏng

U nhày

Các khối u ở da đầu

ThS. Lê Hữu Doanh

Các Nguyên Nhân Gây Rụng Tóc Và Cách Điều Trị

Rụng tóc là tình trạng xảy ra khi số lượng tóc rụng đi nhiều hơn số tóc mọc hàng ngày. Nhiều trường hợp rụng tóc nhiều là do tóc không tiếp tục phát triển, dẫn đến hói đầu, thường xảy ra ở nam. Để chữa rụng tóc, có thể dùng thuốc, liệu pháp cấy tóc hoặc liệu pháp laser.

1. Ai là đối tượng dễ bị rụng tóc?

Rụng tóc có thể chỉ ảnh hưởng đến phần da đầu hoặc toàn bộ cơ thể (rụng lông). Nguyên nhân gây rụng tóc nhiều thường là do di truyền, thay đổi nội tiết tố, bệnh lý hoặc tác dụng không mong muốn của thuốc. Bất cứ ai cũng có thể bị rụng tóc. Tuy nhiên rụng tóc nam thường hay gặp hơn so với rụng tóc nữ.

Những đối tượng sau đây thường có nguy cơ cao bị rụng tóc, bao gồm:

Trong gia đình có người bị hói đầu, có thể là họ hàng bên bố hoặc mẹ;

Tuổi tác cao;

Giảm cân nhanh;

Mắc một số bệnh lý nhất định, chẳng hạn như bệnh tiểu đường và lupus da;

Gặp nhiều căng thẳng.

Nhiều trường hợp rụng tóc nhiều quá mức do yếu tố tuổi tác, dẫn đến hói đầu. Di truyền là nguyên nhân phổ biến nhất của tình trạng này.

Một số người thích để cho hiện tượng rụng tóc của họ diễn ra tự nhiên, không điều trị và cũng không tìm cách che giấu chúng. Những người khác có thể che đi phần đầu hói bằng tóc giả, vật trang trí, mũ hoặc khăn quàng cổ. Tuy nhiên, rất nhiều người khác chọn một trong những phương pháp điều trị để ngăn ngừa rụng tóc và phục hồi sự phát triển của tóc.

Trước quyết định điều trị rụng tóc, hãy thăm khám với bác sĩ để tìm ra nguyên nhân gây rụng tóc và các lựa chọn điều trị phù hợp.

2. Nguyên nhân gây rụng tóc

Một người bình thường mất khoảng 100 sợi tóc mỗi ngày, song điều này thường không gây ảnh hưởng đáng kể bởi vì tóc mới sẽ mọc lên song song. Như vậy, rụng tóc xảy ra khi chu kỳ mọc tóc này bị gián đoạn hoặc khi nang lông bị phá hủy và thay thế bằng mô sẹo, khiến cho lượng tóc rụng nhiều hơn lượng tóc mọc hàng ngày.

Tiền sử gia đình (di truyền): Nguyên nhân phổ biến nhất của rụng tóc nam là di truyền, gây ra hói đầu. Đôi khi nguyên nhân này cũng gặp ở một số trường hợp rụng tóc nữ. Tình trạng này thường xảy ra song song với lão hóa và gần như có thể dự đoán được hình thái của tóc qua thời gian (xuất hiện các đốm hói đối với rụng tóc nam và tóc mỏng dần đối với rụng tóc nữ);

Thuốc và chất bổ sung: Rụng tóc có thể gây ra do tác dụng phụ của một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc trị ung thư, viêm khớp, trầm cảm, thuốc dùng trong bệnh tim, huyết áp cao và thuốc trị gout;

Xạ trị lên phần đầu: Tóc có nguy cơ không thể mọc lại như trước;

Căng thẳng: Nhiều người gặp tình trạng tóc rụng nhiều sau khi nhận một cú sốc về thể chất hoặc tinh thần. Loại này chỉ xuất hiện tạm thời;

Một số kiểu tóc và phương pháp điều trị: Những kiểu “làm tóc” lạ hoặc thắt tóc quá chặt, chẳng hạn như thắt bím tóc hoặc thắt tóc kiểu cornbow (tóc dính sát da đầu kiểu hình hạt bắp) có thể là nguyên nhân gây rụng tóc. Ngoài ra, việc áp dụng những phương pháp điều trị trên tóc (như dùng dầu nóng) tiến hành lâu dài có thể gây viêm nang lông, dẫn đến rụng tóc. Nếu để xảy ra sẹo, có thể rụng tóc vĩnh viễn.

3. Phương pháp chữa rụng tóc

Hiện nay, đã có nhiều phương pháp điều trị hiệu quả cho tình trạng rụng tóc ở cả nam và nữ. Bạn hoàn toàn có thể đảo ngược chứng rụng tóc hoặc ít nhất là làm chậm tiến trình này. Với một số bệnh lý, chẳng hạn như rụng tóc từng vùng, tóc có thể mọc lại mà không cần điều trị gì trong vòng một năm.

Phương pháp điều trị rụng tóc bao gồm sử dụng thuốc, phẫu thuật để kích thích mọc tóc và làm chậm rụng tóc.

3.1. Sử dụng thuốc

Nếu rụng tóc do một căn bệnh tiềm ẩn nào đó gây ra, việc chẩn đoán và chữa trị bệnh lý đó là điều cần thiết. Quá trình điều trị có thể bao gồm các loại thuốc để giảm viêm và ức chế hệ miễn dịch của bệnh nhân, chẳng hạn như thuốc prednisone. Nếu một loại thuốc nào đó có khả năng gây rụng tóc, bác sĩ sẽ khuyên bạn ngừng sử dụng thuốc trong ít nhất ba tháng.

Các thuốc điều trị hói đầu (do di truyền) bao gồm:

Minoxidil (biệt dược Rogaine): Đây là một loại thuốc không kê đơn được phê duyệt trong điều trị rụng tóc nam và nữ. Thuốc ở dưới dạng chất lỏng hoặc bọt, bôi lên da đầu hàng ngày. Lúc đầu, thuốc có thể khiến bạn rụng tóc. Tóc mới có thể ngắn và mỏng hơn tóc cũ. Tuy nhiên, bệnh nhân cần kiên trì ít nhất 6 tháng điều trị để ngăn ngừa rụng tóc và để tóc bắt đầu mọc lại. Bệnh nhân cần tiếp tục dùng thuốc Minoxidil để duy trì lợi ích chữa rụng tóc;

Finasteride (biệt dược Propecia): Đây là một thuốc cần được bác sĩ kê đơn, được phê duyệt dành cho trường hợp rụng tóc nam. Dạng dùng của thuốc là dạng viên. Finasteride có tác dụng làm tóc rụng chậm hơn với phần lớn nam giới, thậm chí một số người còn nhận thấy có sự kích thích mọc tóc mới. Thuốc này có thể không mang lại hiệu quả rõ rệt cho nam giới trên 60 tuổi. Bệnh nhân cần dùng thuốc Finasteride liên tục để duy trì lợi ích chữa rụng tóc;

Các loại thuốc khác tùy trường hợp: Đối với nam giới bị rụng tóc, thuốc uống dutasteride là một lựa chọn phù hợp. Đối với phụ nữ bị rụng tóc, điều trị với thuốc tránh thai và spironolactone có thể ngăn ngừa rụng tóc.

3.2. Phẫu thuật cấy tóc

Trong trường hợp bệnh nhân bị rụng tóc vĩnh viễn và thường chỉ có đỉnh đầu bị ảnh hưởng, kỹ thuật cấy tóc hoặc phẫu thuật phục hồi có thể tận dụng tối đa phần tóc còn lại của bệnh nhân.

Trong quá trình cấy tóc, bác sĩ da liễu hoặc bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ sẽ lấy ra những mảng da đầu nhỏ (mỗi mảng chứa từ một đến vài sợi tóc) ở phía sau đầu hoặc vùng quanh đầu của bệnh nhân. Sau đó, bác sĩ thực hiện cấy nang tóc vào phần hói ở đỉnh đầu. Một số bác sĩ khuyên dùng Minoxidil sau khi cấy ghép để giúp giảm thiểu tình trạng rụng tóc. Đôi khi người bệnh phải tiến hành phẫu thuật nhiều lần để đạt được hiệu quả như mong muốn.

Mặc dù đã được cấy tóc, hiện tượng rụng tóc do di truyền vẫn sẽ xảy ra. Các kỹ thuật để điều trị hói đầu thường khá tốn kém và gây đau đớn. Rủi ro xảy ra bao gồm chảy máu và để lại sẹo.

3.3. Liệu pháp laser

Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt liệu pháp sử dụng laser để chữa rụng tóc do di truyền ở nam và nữ. Một vài nghiên cứu nhỏ đã chỉ ra rằng, phương pháp này giúp cải thiện mật độ tóc. Tuy nhiên, cần nhiều nghiên cứu hơn để chứng minh tác dụng về lâu dài.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả của rụng tóc

Nếu đã bị rụng tóc nhiều và muốn khắc phục hậu quả của tình trạng này có thể dùng các sản phẩm hỗ trợ, chẳng hạn như khăn quàng cổ hoặc tóc giả. Trao đổi thêm với một nhà tạo mẫu tóc để lên ý tưởng cho “mái tóc mới” của bạn. Những giải pháp phi y học này có thể được áp dụng trong quá trình điều trị rụng tóc lâu dài.

Khi nhận thấy tóc rụng nhiều thì cần đi thăm khám bác sĩ để xác định chính xác nguyên nhân, khi đó mới có thể tìm cách cải thiện hoặc chữa trị phù hợp. Khi chưa xác định được nguyên nhân gây rụng tóc, bệnh nhân không nên tự ý sử dụng các loại thuốc trị nấm, thuốc bôi ngoài da hoặc các thuốc chữa rụng tóc không rõ nguồn gốc.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Phân Biệt Các Loại Mụn, Nguyên Nhân Hình Thành Và Cách Chữa Trị

PHÂN BIỆT CÁCH LOẠI MỤN

Nguyên nhân gây ra mụn đầu đen là do bụi bẩn, tế bào chết và dầu nhờn bít tắc trong lỗ chân lông tạo thành. Mụn có đầu màu đen, khá cứng, nằm trên bề mặt da và chủ yếu tập trung ở mũi và hai bên má. Mụn đầu đen cũng có thể chuyển thành mụn viêm nặng nếu không được xử lý đúng cách.

Mụn đầu trắng cơ bản là giống mụn đầu đen. Điểm khác biệt duy nhất là mụn đầu trắng không làm lỗ chân lông mở mà nó chỉ làm tắc. Vì vậy nó không bị tiếp xúc với không khí, không bị oxy hóa nên không đổi màu. Nhân mụn nằm trong lỗ chân lông, cứng, có màu trắng. Mụn có thể nổi trên da mặt nhưng không sưng, không đỏ.

Sợi bã nhờn được hình thành bởi hỗn hợp vi khuẩn, lipid bã nhờn và tế bào chết xung quanh nang lông. Thoạt nhìn thì sợi bã nhờn khá giống mụn đầu trắng. Nhưng sợi bã nhờn thường nhỏ li ti, hay mọc thành cụm và khi nặn ra thì nó là những sợi nhỏ, dài và trắng (chứ không có nhân cứng và ngắn như mụn đầu đen hay đầu trắng). Sợi bã nhờn thường gặp ở vùng cằm dưới môi và 2 bên rìa mũi.

Với loại mụn này, bạn sẽ không nhìn thấy đầu mụn, khiến da hơi gồ ghề, không được mịn màng và da không thể đào thải mụn ra ngoài. Mụn này thường dưới da lâu hơn các mụn khác và chân nó khá sâu vì thế nếu không nặn hết sẽ khiến tình trạng mụn nặng thêm dẫn đến sưng viêm thành mụn u, mụn mủ.

Mụn đỏ là loại mụn sưng tấy đỏ và đau, khó thấy được nhân mụn nên khó lấy nhân mụn ra ngoài. Mụn đỏ có khả năng dẫn đến mụn bọc, mụn nang rất cao nếu không được điều trị đúng cách. Vệ sinh da mặt không sạch gây bít lỗ chân lông và thói quen nặn mụn là những nguyên nhân phổ biến khiến da bị nổi mụn đỏ.

Mụn bọc là loại mụn viêm khá nặng, sưng to, cứng và đỏ hơn mụn đỏ. Mụn bọc thường chứa nhiều mủ ở bên trong và gây đau nhức, dễ để lại sẹo sau khi lành mụn do viêm nhiễm ăn sâu dưới tế bào da.

ĐIỀU TRỊ DỨT ĐIỂM MỤN TẠI VIỆN THẨM MỸ KHƠ THỊ

Viện thẩm mỹ Khơ Thị sở hữu nhiều công nghệ trị mụn độc quyền, tiễn biệt tuyến bã nhờn phì đại, tiêu diệt tận gốc ổ vi khuẩn gây mụn từ bên trong. Đem lại hiệu quả trị mụn cao và không lo mụn tái phát.

Trị mụn dứt điểm bằng công nghệ Acne Control

Với công nghệ này, tinh dầu hạnh nhân và Salicylic Acids đều là gốc dầu nên dễ dàng vượt qua lớp dầu trên làn da, len gỏi vào lỗ chân lông, đánh bay nhân mụn, bã nhờn còn đọng lại.

Kết hợp cùng nhíp y khoa để lấy hết nhân mụn trồi lên. Nhíp có đầu tiếp xúc siêu nhỏ, không gây đau đớn hay tổn thương nào cho làn da. Nhân mụn được lấy ra dễ dàng. Đồng thời tia điện tím đẩy nhanh tinh chất hạnh nhân thẩm thấu sâu vào da, phá vỡ cấu trúc nhân mụn, tiêu diệt vi khuẩn gây mụn, nuôi dưỡng làn da từ bên trong.

PRP là viết tắt của cụm từ Platelet Rich Plasma (huyết tương giàu tiểu cầu). Bác sĩ sẽ lấy một lượng nhỏ máu của chính bạn, sau đó chuyển qua máy ly tâm để loại bỏ hồng cầu, và giữ lại phân đoạn huyết tương có chứa nhiều tiểu cầu nhất. Cuối cùng là tiêm ngược trở lại vào vùng da cần điều trị.

Công nghệ PRP sẽ giúp việc lành vết thương nhanh chóng, kích thích tái tạo collagen và elastin, tăng độ đàn hồi da, nuôi dưỡng da, hỗ trợ làm liền sẹo, sửa chữa các mô bị hư hại. Do đó, PRP là một trong các phương pháp trị mụn được yêu thích nhất hiện nay. Ngoài ra nó còn có tác dụng trị sẹo rỗ, trẻ hóa da, chống lão hóa, phục hồi làn da bị tổn thương. Đặc biệt, do PRP là lấy máu tự nhân nên nguy cơ dị ứng, phản vệ gần như là không có.

Đây cũng là một phương pháp trị mụn khác được phái đẹp ưa chuộng hàng đầu hiện nay. Loại tảo Silic này sẽ phá vỡ các cấu trúc mô viêm nhiễm nằm sâu bên trong da. Đồng thời kích thích hình thành mô mới, tái tạo da đẹp lên một cách tự nhiên.

Tảo silic giúp ngăn chặn hình thành nhân mụn nhanh chóng mà không một sản phẩm trị mụn nào thực hiện được. Đó là vì lớp vỏ cứng của silic không chỉ tấn công mô viêm nhiễm mà còn phá vỡ được lớp lipid bao quanh màng tế bào, đưa trực tiếp các dưỡng chất vào sâu bên trong mà không cần phải dùng kim tiêm. Da sẽ căng bóng, sạch mụn cũ, ngăn ngừa mụn mới.

Tảo Silic còn hỗ trợ trị nám rất hiệu quả

Hắc mai biển có chứa hơn 8 loại vitamin, 24 chất khoáng và 18 axit amin, axit béo cần thiết cho cơ thể, nhất là cho làn da. Dồi dào nhất phải kể đến các vitamin nhóm A, C, E. Hiệu quả của hắc mai biển không chỉ là trị mụn, mà còn trị nám da và trẻ hóa da, giúp làn da mịn màng, trắng hồng tự nhiên từ sâu bên trong.

Cả 3 phương pháp này đều hữu hiệu cho việc trị mụn và hạn chế tối đa khả năng mụn tái phát trở lại. Tùy vào tình trạng da mụn của khách hàng mà bác sĩ sẽ tư vấn phương pháp thích hợp nhất.

XEM THÊM: Cách trị thâm do mụn bằng nọc rắn Cobra Làn da hết thâm, căng bóng mịn màng sau liệu trình trị mụn trước đó

Hãy liên hệ Viện Thẩm Mỹ Khơ Thị ngay lúc này để tận hưởng cảm giác da mặt sạch mụn tuyệt vời đến nhường nào!

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Loại Mụn Cóc: Điều Trị Và Nguyên Nhân Bị trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!