Xu Hướng 2/2024 # Các Khái Niệm Liên Quan Đến Điện Mặt Trời: Công Suất Là Gì? # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Các Khái Niệm Liên Quan Đến Điện Mặt Trời: Công Suất Là Gì? được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Công suất là gì?

Công suất là gì? – Giống như năng lượng (kWh), công suất (W) là từ ngữ mà chúng ta nghe thấy rất nhiều khi nói về các hệ thống năng lượng mặt trời. Trong đời sống hàng ngày, từ này có thể được dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau chẳng hạn như “hôm nay, tôi đã làm việc hết công suất của mình”. Tuy nhiên trong vật lý, nó có một ý nghĩa rất cụ thể, nó là thước đo tốc độ thực hiện công việc của máy móc.

Việc có thể đo lường chính xác công suất là một trong những yếu tố chính cho phép các kỹ sư đầu tiên phát triển các động cơ hơi nước, từ đó thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp. Và nó tiếp tục là khái niệm cần thiết để giúp con người có thể hiểu và sử dụng tốt nhất các nguồn năng lượng trên thế giới hiện nay.

2. Cách tính và đơn vị công suất là gì?

Đơn vị tiêu chuẩn được sử dụng để đo công suất là oát có ký hiệu là W (watt). Đơn vị công suất này được đặt theo tên của nhà phát minh và nhà công nghiệp người Scotland James Watt. Chắc chắn rằng bạn đã thường xuyên nhìn thấy đơn vị “watt” này trong đời sống hàng ngày. Khả năng làm việc của các thiết bị điện như bóng đèn, nồi cơm điện, quạt máy… đều được các nhà cung cấp thể hiện bằng watt.

Theo định nghĩa, 1 watt tương đương với 1 joule (J) công việc được thực hiện trên mỗi giây (s). Vì vậy, nếu P đại diện cho công suất (tính bằng W), thì ΔE là sự thay đổi về năng lượng (số lượng J) và Δt là thời gian thực hiện vài giây sau đó (s), ta có công thức tính công suất:

Ngoài ra còn có một đơn vị công suất khác vẫn được sử dụng rộng rãi là mã lực. Thường được biểu thị ngắn gọn là HP và có nguồn gốc từ thế kỷ 17, nơi nó được hình thành để đề cập đến sức mạnh của một con ngựa trưởng thành được sử dụng để kéo nâng vật nặng (thông qua ròng rọc). Kể từ đó, số liệu một mã lực (1 HP) đã được xác định là công suất cần thiết để nâng một khối lượng 75 kg lên khoảng cách 1 mét trong 1 giây.

3. Điểm khác biết giữa ampe, vôn và watt là gì?

Để dễ hiểu ý nghĩa và sự khác biệt giữa 3 đơn vị này, chúng ta hãy tưởng tượng nguồn điện như một dòng nước chảy qua một đường ống. Cường độ dòng điện (A) chính là lượng nước chảy qua đường ống. Điện áp (V) chính là áp lực của dòng nước. Công suất (W) là sức mạnh mà nước có thể cung cấp.

Ampe (A) là đơn vị đo cường độ dòng điện. Đơn vị tiêu chuẩn này được tất cả mọi nơi trên thế giới sử dụng để đo dòng điện chạy nhanh như thế nào.

Vôn (V) đơn vị cơ bản của lực điện động trong hệ SI và MKS, là khoảng chênh lệch điện thế (hiệu điện thế), làm cho dòng điện 1 ampe chạy qua một dây dẫn có điện trở là 1 ôm (Ω).

Oát (W) là đơn vị cơ bản của công suất điện, cơ hoặc nhiệt trong hệ thống SI và MKS, bằng một joule (J) mỗi giây, đối với năng lượng điện nó bằng 1 vôn-ampe (V x A).

Như đã nói ở trên, dòng điện là dòng chạy (như nước) của các điện tử thông qua một dây dẫn (ống nước). Tốc độ dòng điện (tốc độ nước chảy) được đo bằng ampe (ký hiệu là A). Khi nói đến máy bơm, theo bạn điều gì làm cho nước từ dưới giếng có thể được đẩy lên mặt đất? – Đó chính là áp lực được tạo ra trong đường ống. Thì điện áp trong điện học cũng tương tự áp suất trong hệ thống bơm.

Khách Quan Là Gì? Những Nội Dung Liên Quan Đến Khái Niệm Khách Quan

Chúng ta thường bắt gặp từ khách quan trong các văn bản, tài liệu, bài phát biểu…Hay thậm chí trong cuộc hội thoại, có ai đó nói chúng ta rằng: “Bạn nên đánh giá điều đó một cách khách quan”. Vậy khách quan được hiểu như thế nào cho đúng và đầy đủ, mời các bạn cùng tìm hiểu bài viết sau đây:

Khách quan là gì?

Khách quan là một khái niệm trừu tượng và có tính tương đối, nên không thể định nghĩa chính xác khách quan là gì hay khách quan bao gồm những gì. Ta có thể tham khảo khái niệm phạm trù “khách quan” trong triết học như sau:

Phạm trù “khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thuộc vào một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể đó. Nói đến khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên ngoài và không lệ thuộc vào chủ thể hoạt động.

Tính khách quan là gì?

Ta thường nghe các cụm từ một đánh giá, một quyết định, một tuyên bố, một thông tin, một quan điểm mang tính khách quan. Vậy tính khách quan ở đây có nghĩa là gì?

Một cái gì đó mang tính khách quan có nghĩa là nó dựa trên một sự thật đã được chứng minh là đúng, nó độc lập và không xuất phát từ ý thức của chủ thể.

Quan điểm chủ quan dựa trên cảm xúc, ý kiến, kinh nghiệm trong quá khứ hay mong muốn của một cá nhân. Vì vậy, sự khác biệt của tính khách quan và chủ quan nằm ở cơ sở thực tế hay là ý kiến cá nhân.

Một đánh giá khách quan là đánh giá dựa trên sự thật, nó có thể quan sát được, định lượng và chứng minh được. Đánh giá đó dựa trên sự thật và không có ảnh hưởng cá nhân, vì vậy đánh giá khách quan lúc nào cũng đưa ra kết quả chính xác hơn là chủ quan và từ đó giúp chúng ta đưa ra được các quyết định đúng đắn.

Nhận định mang tính chủ quan thường sẽ không chính xác

So sánh giữa khách quan và chủ quan

Cơ sở so sánh Khách quan Chủ quan

Ý nghĩa Khách quan đề cập đến những tuyên bố trung lập đã được công nhận là đúng, không có sự thiên vị và hoàn toàn công bằng. Chủ quan có nghĩa là một cái gì đó không bao quát toàn bộ  sự việc một cách rõ ràng hoặc nó chỉ là quan điểm hoặc ý kiến ​​của một cá nhân.

Cơ sở Dựa trên quan sát và thu thập dữ liệu thực tế và quá trình nghiên cứu bài bản. Dựa trên giả định, niềm tin, ý kiến của bản thân

Sự xác minh Đã xác minh Chưa được xác minh

Trần thuật Giống nhau Khác nhau từ người này qua người kia, từ ngày này qua ngày kia

Ra quyết định Đúng Sai

Được dùng trong Sách giáo khoa, bách khoa toàn thư, nghiên cứu khoa học, báo cáo…

Galile nghiên cứu trái đất dựa trên các phương pháp khoa học và đưa ra được một nhận định khách quan rằng” Trái đất là hình tròn”

Yếu tố khách quan là gì?

Yếu tố khách quan là khái niệm chỉ các bộ phận, các hợp phần cấu thành nên phạm trù khách quan của một chủ thể.

Ví dụ: yếu tố khách quan của một người có thể là sự tồn tại của các yếu tố thời tiết bên ngoài như: nhiệt độ, gió, mưa, giông lốc, lũ lụt… Nó không phụ thuộc vào hành động, ý chí của chúng ta, nhưng nó lại ảnh hưởng đến hành động của chúng ta. Nhiệt độ quá cao gây nên hạn hán bắt buộc chúng ta phải đào mương, dẫn nước để tưới tiêu cho đồng ruộng. Lũ lụt bắt buộc con người phải có các biện pháp ứng phó, di dời, sơ tán. Nhưng chúng ta lại không thể tác động để hạn hán hay lũ lụt không  xảy ra được. Vậy hạn hán, lũ lụt chính là một yếu tố khách quan của chủ thể con người.

Xác suất khách quan là gì?

Xác suất khách quan (Objective Probability) là khả năng, cơ hội hoặc tỉ lệ xác xuất một biến cố hay sự việc có thể xảy ra dựa trên phân tích các công cụ đo lường cụ thể thay vì bằng linh cảm hoặc các phỏng đoán của con người.

Các yếu tố thực tế được ghi chép, đo lường trong một khoảng thời gian đủ dài để thu thập dữ liệu cần có. Các dữ liệu này sẽ được xử lý và tính toán bằng các công cụ toán học để xác định khả năng xảy ra một biến cố độc lập hay riêng lẻ. Biến cố độc lập là một biến cố mà kết quả của nó không bị ảnh hưởng bởi các biến cố xảy ra trước đó.

Nguyên tắc khách quan là gì?

Nguyên tắc khách quan thừa nhận vai trò quyết định của hiện thực khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, phải lấy thực thể khách quan làm căn cứ cho hoạt động của mình.

Quy luật khách quan là gì?

Quy luật khách quan là mối liên hệ bản chất, ổn định, được lặp đi lặp lại giữa các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, những quy luật này tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức và ý chí của con người.

Mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan

Khách quan và chủ quan là hai mặt, hai yếu tố không thể tách rời trong mọi hoạt động của mỗi người.

Khách quan bao giờ cùng là cơ sở, tiền đề và giữ vai trò quyết định chủ quan. Trái lại, chính những điều kiện khách quan hợp thành hoàn cảnh, môi trường sống và hoạt động hiện thực của con người và chính việc con người nhận thức được sự vận động, biến đổi của quy luật khách quan làm tiền đề làm nảy sinh ở họ những dự kiến, những kế hoạch, quyết tâm hành động cải biến hiện thực vì nhu cầu lợi ích của mình.

Tìm Hiểu Một Vài Khái Niệm Liên Quan Đến “Mã Hóa”

Enconding

Về mặt định nghĩa mà nói, ta có thể đưa ra khái niệm sau về chuyện thế nào gọi là encoding

Đọc nghe hơi rối rắm phải không. Một vài ví dụ về encoding mà ta thường xuyên sử dụng :

Đầu tiên là base64 encoding. Đây là một trong số những kiểu encode dùng để chuyển dữ liệu từ dạng mã nhị phân sang dạng text. Tưởng tượng như ta đang có nhu cầu gửi email một bức ảnh chẳng hạn. Vì email không thể truyền data dạng binary đi được rồi, nên ta cần phải encode base64 để chuyển nó sang dạng text

Hay một kịch bản khác thường hay gặp hơn, đó là url encoding . Như ta đã biết, url chỉ có thể chứa những kí tự trong bảng mã ASCII. Tuy nhiên, trong thực tế, các đường dẫn url của ta thường xuyên cần phải chứa những kí tự đặc biệt nằm ngoài bảng mã này, thế nên, ta cần sử dụng encoding để chuyển nó về định dạng chấp nhận được. Cụ thể, các thuật toán url encode, thường sẽ thay thế các kí tự đặc biệt bằng một chuỗi bắt đầu với % gắn với 2 giá trị số hex

Tóm lại , ta có thể rút ra một vài điểm cần lưu ý về encoding :

Mục đích của encode là để đảm bảo khả năng sử dụng (usability) của dữ liệu

Từ nhu cầu trao đổi dữ liệu, nên các phép encode đều có thể đảo ngược và thuật toán encode đều được công khai

Đầu vào của encode không nhất thiết phải là text

Encryption

Tóm lại, ta có thể rút ra đặc điểm nhận dạng của encrption :

Mục đích của encryption là tính bảo mật của dữ liệu

Các thuật toán encryption được sử dụng là bí mật, chỉ có người gửi và người nhận được quyền biết

Để dữ liệu ban đầu có thể đến được tay người nhận, các quá trình encryption là có thể đảo ngược

Hashing

Hashing cũng tương tự như các khái niệm trên, nhận một giá trị đầu vào, và qua thuật toán biến đổi, cho một giá trị đầu ra. Tương tự như encryption, muốn thực hiện một phép hashing , ta cần 3 yếu tố đầu vào : chuỗi input ta muốn hash, thuật toán dùng để hash, và chuỗi secret key. Thế nhưng , mục đích của phép hash là nhằm đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu, nghĩa là với input thay đổi, luôn luôn cho ta một output thay đổi. Nhưng khác với encryption, hashing là một quá trình không thể đảo ngược. Kể cả khi bạn có chuỗi output, secret key và thuật toán, bạn cũng không thể lấy lại được chuỗi input. Với đặc điểm này , phép hashing thường được dùng trong các quá trình xác thực, để nhận biết xem, dữ liệu nhận được và dữ liệu truyền đi có bị thay đổi gì hay không. Cụ thể, người gửi và người nhận cùng thống nhất với nhau một secret key. Khi gửi, người gửi hashing dữ liệu gửi tạo thành một signature gửi đi kèm với dữ liệu. Khi nhận, người nhận hashing dữ liệu nhận được, và so sánh với signature người nhận gửi kèm. Nếu không có gì khác biệt, dữ liệu nhận được đảm bảo là toàn vẹn. Nếu bạn làm việc với Java Web Token, hẳn sẽ nhận ra kịch bản này rất quen thuộc. Một vài thuật toán hashing thông dụng như SHA-3 , MD5

Qua đây, ta có thể rút ra một vài đặc điểm của hashing:

Mục đích của hashing là Tính toàn vẹn của dữ liệu

Các thuật toán hashing được sử dụng là công khai, mọi người đều có thể biết được

Hashing là một quá trình không thể đảo ngược , người nhận không thể qua chuỗi output để tìm ra được chuỗi input.

Obfuscation

Kết quả cuối cùng của Obfuscation, khái niệm cuối cùng mà mình muốn nói đến hôm nay, sẽ kiểu như hình trên. Khác với các khái niệm trước, mục tiêu mà chúng nhắm đến thường không phân biệt là người hay chương trình ( có đọc được dữ liệu này không, có xem trộm được dữ liệu này không, có đảm bảo được dữ liệu này là hàng xịn không ), Obfuscation chỉ có ý nghĩa với con người. Đây là một quá trình làm cho dữ liệu trở nên khó hiểu , khó đọc hơn, từ đó khiến chúng khó bị sao chép hay tấn công hơn. Kịch bản hay gặp nhất là khi ta cần bảo source code bị người dùng tiếp cận của mìn,như các file js chẳng hạn. Ví dụ bạn bật thử F12 lên, vào trong source của ngay trang viblo, sẽ thấy một file js rất lằng nhằng khó hiểu, đó chính là đã qua quá trình obfuscation rồi đó. Máy đọc vẫn hiểu, người đọc thì không . Tuy nhiên cần lưu ý rằng, quá trình này chỉ là một cản trở nhỏ, không phải là một biện pháp bảo đảm an toàn, bởi lẽ, rất dễ để đảo ngược quá trình này.

Tóm lại, đặc điểm nhận dạng của thằng này là :

Obfuscation nhằm đến mục tiêu ngăn ngừa (cản trở thì đúng hơn) con người hiểu được dữ liệu

Mục đích của nó là nhắm đến tính đọc hiểu ( readability ) của dữ liệu

Các phép toán thực hiện Obfuscating là công khai

Qúa trình này có thể đảo ngược một cách rất dễ dàng.

Đặc điểm riêng nhất của nó, đó là Obfuscation chỉ có ý nghĩa với con người. Chương trình có thể hiểu dữ liệu đã qua hoặc chưa qua obfuscation một cách không mấy khác biệt.

All Rights Reserved

Phương Pháp Lãi Suất Thực (Effective Interest Method) Là Gì? Đặc Điểm Và Khái Niệm Liên Quan

Phương pháp lãi suất thực

Khái niệm

Phương pháp lãi suất thực trong tiếng Anh là Effective Interest Method.

Phương pháp lãi suất thực là phương pháp được người mua trái phiếu sử dụng để tính khoản chiết khấu trái phiếu khi số dư được chuyển vào thu nhập lãi hoặc để khấu hao phí bảo hiểm trái phiếu vào chi phí lãi vay. Lãi suất thực sử dụng giá trị sổ sách để tính thu nhập lãi. Chênh lệch giữa thu nhập lãi và thanh toán lãi của trái phiếu là số tiền bồi thường hoặc khấu hao mỗi năm.

Hiểu về Phương pháp lãi suất thực

Phương pháp lãi suất thực phát huy tác dụng khi trái phiếu được mua với giá chiết khấu hoặc phí bảo hiểm. Trái phiếu thường được phát hành theo mệnh giá 1.000 đô la và được bán theo bội số của 1.000 đô la. Nếu một trái phiếu được mua ở mức dưới mệnh giá, khoản chênh lệch chính là chiết khấu trái phiếu. Vì trái phiếu trả lại số tiền mệnh giá cho người mua khi đáo hạn, chiết khấu là thu nhập trái phiếu bổ sung cho người mua.

Theo cách tương tự, nếu một trái phiếu được mua ở mức giá trên mệnh giá bao gồm phí bảo hiểm trái phiếu, phí bảo hiểm là một chi phí bổ sung cho người mua trái phiếu vì người mua chỉ nhận được số tiền mệnh giá khi đáo hạn.

Phương pháp lãi suất thực và phần bồi thường

Giả sử một nhà đầu tư mua trái phiếu với mệnh giá 500.000 đô la và lãi suất coupon là 6%. Các trái phiếu được mua với giá 375,107 đô la, bao gồm chiết khấu trái phiếu từ mệnh giá 122,893 đô la.

Thu nhập lãi của trái phiếu được tính bằng giá trị sổ sách nhân với lãi suất thị trường. Đây là tổng lợi nhuận kiếm được từ trái phiếu được chiết khấu và lãi thu được. Trong trường hợp này, giả sử lãi suất thị trường là 10%, được nhân với giá trị sổ sách là 375,107 đô la để tính ra 37,710 đô la trong thu nhập lãi.

Trái phiếu trả lãi hàng năm là 6% trên số tiền mệnh giá 500.000 đô la, tương đương 30.000 đô la. Chênh lệch giữa lãi phải trả và thu nhập lãi, tương ứng 7.710 đô la, là số tiền của khoản chiết khấu trái phiếu cho năm đầu tiên.

Tích lũy trái phiếu trong năm được chuyển vào thu nhập trái phiếu và số tiền bồi thường cũng được thêm vào giá trị sổ sách. Giá trị sổ sách mới tăng lên 384.817 đô la, được sử dụng để tính tiền bồi thường trái phiếu cho năm thứ hai. Vào cuối thời hạn 10 năm của trái phiếu, giá trị sổ sách được điều chỉnh bằng với số tiền mệnh giá 500.000 đô la.

Bao thanh toán trong khấu hao trái phiếu

Một trái phiếu được mua với giá cao tạo ra chi phí sử dụng vốn vay lớn hơn cho người mua trái phiếu, bởi vì phí bảo hiểm được trả khấu hao vào chi phí trái phiếu.

Giả sử, trong trường hợp này, một trái phiếu mệnh giá 100.000 đô la, lãi suất 4.5%, được mua với giá 104,100 đô la, bao gồm phí bảo hiểm 4,100 đô la.

Khoản thanh toán lãi hàng năm cho trái phiếu là 4.500 đô la, nhưng thu nhập lãi thu được trong năm đầu tiên chưa đến 4.500 đô la vì trái phiếu được mua với lãi thị trường chỉ 4%.

Thu nhập lãi thực tế là 4% nhân với giá trị sổ sách 104.100 đô la, tương đương 4.164 đô la, và khấu hao bảo hiểm cho năm đầu tiên là 4.500 đô la trừ 4.164 đô la, tương đương 336 đô la.

Khoản khấu hao 336 đô la được ghi vào chi phí trái phiếu và số tiền này cũng làm giảm giá trị sổ sách của trái phiếu.

(Theo Investopedia)

Lê Huy

Số Nguyên Tố Là Gì? Những Khái Niệm Liên Quan Tới Số Nguyên Tố.

Số nguyên tố là gì?

Định nghĩa về số nguyên tố rất đơn giản: Số nguyên tố là tập hợp những số tự nhiên chỉ chia hết cho 1 và chính nó. Đơn giản có thể hiểu rằng: Với một số tự nhiên lớn hơn 1, nếu như ngoài chữ số 1 và bản thân nó ra thì nó không chia hết cho số nào khác nữa. Số nguyên tố là gì? Ví dụ về số nguyên tố cho các bạn dễ hình dung: 2, 3, 5, 7, 11, 13, 17, 19, 23, 29,….Tất cả những con số trên gọi là số nguyên tố. Đặc biệt các bạn lưu ý rằng có hai trường hợp không được xét là số nguyên tố, đó chính là số 0 và số 1. Những lưu ý về số nguyên tố

Số nguyên tố nhỏ nhất có 1 chữ số là số 2;

Số nguyên tố nhỏ nhất có 2 chữ số là số 11;

Số nguyên tố nhỏ nhất có 3 chữ số là số 101;

Số nguyên tố lớn nhất có 2 chữ số là số 97;

Số nguyên tố lớn nhất có 3 chữ số là 997.

Các tính chất đặc trưng của số nguyên tố

Một số tính chất cơ bản của số nguyên tố sau sẽ giúp các bạn học sinh tính toán dễ dàng hơn: – Số 2 vừa là số nguyên tố nhỏ nhất vừa là số nguyên tố chẵn duy nhất. – Không thể giới hạn số lượng số nguyên tố, hay tập hợp các số nguyên tố là vô hạn. – Hai số nguyên tố nhân với nhau thì tích của chúng không thể là một số chính phương. – Ước tự nhiên nhỏ nhất (khác số 1) của một số tự nhiên là một số nguyên tố. – Ước bé nhất (là số dương khác 1) của một hợp số b nào đó là một số nguyên tố không vượt quá căn bậc hai của b.

Hai số nguyên tố được gọi là số nguyên tố cùng nhau nếu như chúng có ước số chung lớn nhất là 1. Ví dụ: 2 và 3  là hai số nguyên tố cùng nhau vì chúng có ước số chung lớn nhất là 1. 5 và 7 là hai số nguyên tố cùng nhau  vì chúng có ước số chung lớn nhất là 1. 13 và 27 là hai số nguyên tố cùng nhau vì chúng có ước số chung lớn nhất là 1. 6 và 27 không phải là hai số nguyên tố cùng nhau vì ước số chung lớn nhất của chúng là 3 (khác 1). Một số a được gọi là số siêu nguyên tố khi ta bỏ một số tùy ý các chữ số bên phải của c thì phần còn lại của c vẫn tạo thành một số nguyên tố. Ví dụ: 37337 là một số siêu nguyên tố, vì khi ta bỏ một chữ số 7 ở bên tay trái số này đi, ta được số 3733 vẫn là một số nguyên tố. Sách nỗi cô đơn của các số nguyên tố.

Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan

Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. 

1. Khái niệm văn hóa

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo UNESCO: ‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”1. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lạc: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật. Thực tế quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý văn hóa ở cấp xã lại càng không phải chỉ có thế.

Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đầy đủ hơn. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.

Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người. Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Công chức làm công tác văn hóa – xã hội ở cấp xã cần biết các khái niệm sau:

– Di sản văn hóa phi vật thể: Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và tri thức dân gian khác.

Tam quan chùa Nôm, xã Đại Đồng, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

– Di sản văn hóa vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm (Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

– Di tích lịch sử – văn hóa: Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.

– Danh lam thắng cảnh: Là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.

– Di vật: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.

– Cổ vật: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.

– Bảo vật quốc gia: Là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.

 

1,2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2024, tr.78,126.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2024, tr.78,126.

 Nguồn: Kỹ năng nghiệp vụ công tác văn hóa-xã hội ở xã, phường, thị trấn, TS. Vũ Đăng Minh- ThS. Nguyễn Thế Vịnh, NXB CTQG – ST, Hà Nội, 2024

(Phòng VHVN sưu tầm)

 

 

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Khái Niệm Liên Quan Đến Điện Mặt Trời: Công Suất Là Gì? trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!