Xu Hướng 11/2022 # Biểu Hiện Nhiễm Hiv Ở Nam Giới / 2023 # Top 12 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Biểu Hiện Nhiễm Hiv Ở Nam Giới / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Biểu Hiện Nhiễm Hiv Ở Nam Giới / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

HIV là một virus nguy hiểm, có thể lây nhiễm cho cả hai giới, tấn công và phá hủy hệ miễn dịch. Điểm đặc biệt của HIV là không giống như những virus khác bị hệ miễn dịch của con người tấn công và đào thải, HIV lại có khả năng tấn công và làm suy yếu hệ miễn dịch bằng cách tiêu diệt các tế bào CD4, loại bỏ khả năng phòng vệ của cơ thể người.

1. Con đường lây truyền HIV

HIV lây truyền qua các dịch của cơ thể, bao gồm:

Nhiễm HIV là một tình trạng mạn tính, hiện chưa có cách điều trị khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên nếu được phát hiện sớm và điều trị theo đúng phác đồ, HIV có thể bị khống chế, bệnh nhân sẽ có thời gian sống dài gần như người không nhiễm HIV.

2. Tiến triển chung của HIV

HIV tiến triển theo ba giai đoạn. Mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi những dấu hiệu và triệu chứng riêng.

Giai đoạn 1: Là giai đoạn cấp tính, thường xảy ra từ 2 – 4 tuần sau lây nhiễm, và dễ bị bệnh nhân bỏ qua. Các triệu chứng tiêu biểu thường giống như nhiễm cúm, bao gồm sốt, mệt mỏi, ớn lạnh. Một số người không nhận ra mình đã bị lây nhiễm bởi các triệu chứng biểu hiện nhẹ và không khiến cơ thể mệt mỏi. Nếu nghi ngờ nhiễm virus HIV, bệnh nhân nên đi khám càng sớm càng tốt.

Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn không triệu chứng, có thể kéo dài tới 10 năm hoặc hơn nữa. Ở giai đoạn này, nếu bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp kháng virus (antiretroviral therapy – ART), virus có thể bị khống chế và HIV sẽ không tiếp tục tiến triển, đồng nghĩa với việc giảm khả năng lây truyền virus sang người khác. Nếu không được điều trị, virus sẽ tiếp tục nhân lên trong cơ thể. Trên thực tế, nhiều trường hợp số lượng virus trong cơ thể vẫn ở mức quá thấp để các xét nghiệm có thể phát hiện ra, do đó để chắc chắn cần làm lại xét nghiệm sau khoảng thời gian là 6 tháng.

Giai đoạn 3: Đây là giai đoạn cuối – AIDS, hệ miễn dịch của cơ thể đã bị suy yếu hoàn toàn. Lúc này cơ thể không còn khả năng chống đỡ với các tác nhân gây bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhiễm trùng cơ hội bùng phát, và hậu quả nặng nhất là gây tử vong.

3. Các triệu chứng nhiễm HIV ở nam giới

Mỗi nam giới là một cá thể khác biệt, do đó triệu chứng HIV ở người này so với người khác rất thay đổi. Tuy nhiên các biểu hiện của HIV vẫn theo ba giai đoạn tiến triển chung của bệnh.

3.1 Giai đoạn 1

Khoảng 80% nam giới phơi nhiễm với HIV sau 2 – 4 tuần sẽ xuất hiện các biểu hiện giống như cúm. Đây là giai đoạn nhiễm HIV cấp tính, và các triệu chứng hay gặp nhất bao gồm:

Các triệu chứng ít gặp hơn bao gồm:

Mệt mỏi.

Sưng đau hạch bạch huyết.

Loét miệng hoặc bộ phận sinh dục.

Đau cơ.

Đau khớp.

Buồn nôn, nôn.

Đổ mồ hôi ban đêm.

Các triệu chứng thường kéo dài từ một tới hai tuần. Cáctriệu chứng nhiễm HIV ở nam giới và ở nữ giới là giống nhau, nhưng vết loét sinh dục trên dương vật là biểu hiện đặc trưng ở nam giới. HIV cũng có thể dẫn tới suy chức năng tuyến sinh dục nam giới do giảm tiết nội tiết tố sinh dục nam.

Bất cứ ai xuất hiện những dấu hiệu trên và nghĩ bản thân có thể đã phơi nhiễm với HIV nên đi thăm khám càng sớm càng tốt.

3.2 Giai đoạn 2

Sau khi những dấu hiệu và triệu chứng đầu tiên biến mất, HIV thường không xuất hiện thêm biểu hiện nào nữa trong nhiều năm. Trong khoảng thời gian này, virus vẫn tiếp tục nhân lên và bắt đầu làm suy yếu hệ miễn dịch, nhưng bên ngoài bệnh nhân trông vẫn có vẻ bình thường. Giai đoạn này virus có thể lây nhiễm cho người khác, do đó việc phát hiện sớm là vô cùng quan trọng.

3.4 Giai đoạn 3

Đến thời điểm này, HIV đã phá hủy được hệ miễn dịch của cơ thể. Giai đoạn này còn được gọi dưới cái tên AIDS, là giai đoạn cuối của bệnh. Bệnh nhân lúc này không còn khả năng chống đỡ trước các tác nhân gây bệnh, và nhiễm trùng cơ hội sẽ bùng phát. Nhiễm trùng cơ hội là các tình trạng mà bình thường cơ thể con người có thể chống lại, nhưng người nhiễm HIV thì không. Những người nhiễm HIV có thể thấy rằng họ thường xuyên bị cảm lạnh, cảm cúm, và hay nhiễm nấm. Khi tiến triển đến giai đoạn 3 sẽ xuất hiện các triệu chứng sau:

Buồn nôn, nôn.

Tiêu chảy dai dẳng.

Mệt mỏi mạn tính.

Sụt cân nhanh.

Ho, thở khó.

Sốt tái diễn, ớn lạnh, ra mồ hôi ban đêm.

Phát ban, mẩn rát, hoặc các vết loét ở miệng hoặc mũi, ở bộ phận sinh dục, hoặc dưới da.

Sưng đau hạch kéo dài vùng nách, bẹn và cổ.

Mất trí nhớ, loạn thần hoặc các rối loạn tâm thần khác.

4. Thời điểm xét nghiệm HIV cho nam giới

Nam giới có hoạt động tình dục nên kiểm tra HIV ít nhất một lần trong đời. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention – CDC) khuyến cáo những người có yếu tố nguy cơ nên thực hiện xét nghiệm định kì mỗi năm một lần (những người này là: nam giới đồng tính và lưỡng tính, nam giới có quan hệ đồng giới và nam giới tiêm chích ma túy).

Nếu nghi ngờ phơi nhiễm HIV hoặc có quan hệ tình dục không an toàn cũng nên đi xét nghiệm.

5. Cách phòng ngừa HIV cho nam giới

Nam giới có thể phòng tránh HIV bằng những cách sau:

Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục: Dù quan hệ tình dục qua đường âm đạo hay hậu môn, nếu sử dụng đúng cách, bao cao su mang lại hiệu quả cao trong phòng tránh lây nhiễm HIV.

Không tiêm chích ma túy: Tốt nhất không nên sử dụng ma túy dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu tiêm chích ma túy, không dùng chung hay tái sử dụng bơm kim tiêm.

Luôn cảnh giác: Luôn cẩn thận khi tiếp xúc với máu, hãy sử dụng găng tay hoặc đồ bảo hộ để ngăn lây nhiễm.

Xét nghiệm HIV: Nên thực hiện xét nghiệm HIV theo khuyến cáo.

Gói khám sàng lọc các bệnh xã hội tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec cung cấp cho các khách hàng mọi giới tính và mọi lứa tuổi giúp tầm soát và thực hiện các xét nghiệm: HIV Ab test nhanh, xét nghiệm Chlamydia test nhanh, xét nghiệm Treponema pallidium test nhanh, xét nghiệm Treponema pallidum TPHA định tính và định lượng, xét nghiệm vi khuẩn nhuộm soi và xét nghiệm vi nấm nhuộm soi…Khách hàng khi chọn thực hiện các xét nghiệm tại bệnh viện Vinmec có thể hoàn toàn yên tâm về độ chính xác của kết quả xét nghiệm.

Vì sao nên chọn Vinmec để khám sàng lọc bệnh xã hội:

Đội ngũ y – bác sỹ là các chuyên gia đầu ngành, trình độ chuyên môn cao, tận tụy và hết lòng vì lợi ích của bệnh nhân

Dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp

Hệ thống trang thiết bị hiện đại, hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiệu quả

Không gian khám chữa bệnh hiện đại, văn minh, sang trọng và tiệt trùng tối đa

Đảm bảo trọn vẹn sự an toàn và riêng tư cho khách hàng

Mô hình quản lý, chia sẻ và kết nối dữ liệu thông tin trực tuyến hiện đại, hiệu quả tối ưu.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bài viết tham khảo nguồn: chúng tôi và chúng tôi

Các Biểu Hiện Hiv/Aids Ở Nam Giới / 2023

1. HIV/AIDS là gì?

Nhắc lại một chút về HIV/AIDS:

HIV là một virus lây truyền qua đường tình dục, qua tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh hoặc từ mẹ sang con trong khi mang thai. Nếu không được điều trị, theo thời gian, HIV sẽ làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bạn đến mức gây ra bệnh AIDS.

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) là một bệnh lý mãn tính. Trong đó, người mắc bệnh không có hoặc có ít khả năng để chống lại tình trạng nhiễm trùng hơn so với người không có bệnh. Điều này dẫn đến một số các hậu quả nghiêm trọng và thậm chí có khả năng đe dọa tính mạng.

2. Triệu chứng nhiễm HIV/AIDS

Phụ thuộc vào cơ thể từng người và giai đoạn bệnh, biểu hiện của HIV/AIDS hoàn toàn không giống nhau.

Giai đoạn 1: không triệu chứng

Không có triệu chứng.

Hạch to toàn thân dai dẳng.

Giai đoạn 2: triệu chứng nhẹ

Sụt cân không rõ nguyên nhân mức độ trung bình (< 10% trọng lượng cơ thể).

Viêm xoang, viêm amidan, viêm tai giữa, viêm họng tái đi tái lại nhiều lần.

Zona (giời leo).

Loét miệng tái đi tái lại.

Phát ban dát sẩn, cảm giác ngứa.

Giai đoạn 3: triệu chứng trung bình đến nặng

Tiêu chảy không rõ nguyên nhân kéo dài hơn 1 tháng.

Sốt không rõ nguyên nhân (khoảng 37,6°C từng đợt hoặc liên tục kéo dài hơn 1 tháng).

Nhiễm nấm Candida ở miệng tái đi tái lại.  

Lao phổi. 

Nhiễm trùng nặng do vi khuẩn (viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết…).  

Thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính hoặc giảm tiểu cầu mạn tính không rõ nguyên nhân.

Giai đoạn 4: triệu chứng nặng

Những dấu hiệu phổ biến bao gồm:

Lao ngoài phổi.

Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci.

Nhiễm nấm Candida thực quản.

Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương.

Viêm võng mạc do Cytomegalovirus (CMV).  

Viêm màng não do Cryptococcus.   

3. Làm gì khi có biểu hiện của HIV/AIDS?

Đừng quá bi quan cho rằng bạn bị nhiễm HIV chỉ vì có bất kỳ triệu chứng nào trong số những triệu chứng đã nêu ở trên. Chúng hoàn toàn có thể được gây ra bởi nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau. Thay vào đó, để chắc chắn, hãy thực hiện các xét nghiệm chuyên biệt để xác định HIV.

Các xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV được chia thành các phương pháp chính:

Phương pháp xét nghiệm huyết thanh học: để phát hiện sự hiện diện của kháng thể kháng HIV và/hoặc kháng nguyên HIV trong máu hoặc các dịch tiết của người nghi ngờ nhiễm. Phương pháp này có giá trị xác định tình trạng nhiễm HIV ở người lớn và trẻ em trên 18 tháng tuổi. Chúng bao gồm các kỹ thuật sau:

Xét nghiệm HIV bằng kỹ thuật đơn giản (test nhanh).

Xét nghiệm HIV bằng kỹ thuật miễn dịch đánh dấu (ELISA, Western blot).

Phương pháp dùng xét nghiệm sinh học phân tử: để phát hiện sự hiện diện trực tiếp của virus (thông qua ADN/ARN của HIV) trong máu hoặc các dịch tiết của đối tượng nghi ngờ.

4. Người bệnh được chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS khi nào?

Người bệnh được chẩn đoán dương tính với HIV khi có kết quả dương tính đồng thời của 3 xét nghiệm từ cùng một mẫu máu (hay dịch tiết), trong đó có:

1 test nhanh.

2 test ELISA.

Nhìn chung, các trường hợp có thể gặp là:

Kết quả xét nghiệm

Chẩn đoán

Test nhanh có phản ứng + 2 test ELISA có phản ứng.

Dương tính

Xét nghiệm kháng thể đầu tiên (test nhanh) cho kết quả không phản ứng.

Âm tính

Kết quả trái ngược nhau qua 3 xét nghiệm sàng lọc.

Không xác định. Trong trường hợp này, các mẫu theo dõi cần phải xét nghiệm lại tại thời điểm 2 tuần và thời điểm 3, 6, 12 tháng. Nếu tình trạng này vẫn không xác định sau 1 năm, người đó được coi là kháng thể HIV âm tính.

Triệu Chứng Nhiễm Hiv Ở Nam Giới: Dấu Hiệu Nhiễm Hiv Đầu Tiên / 2023

Triệu chứng nhiễm HIV ở nam giới: dấu hiệu nhiễm HIV đầu tiên HIV là tai họa của thế kỷ 21, chưa thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bạn có thể cho người bệnh cơ hội sống một cuộc sống hạnh phúc và khá dài. Lúc đầu, bệnh không khác nhau ở bất kỳ triệu chứng cụ thể nào. Các triệu chứng HIV ở nam giới trong những tháng đầu tiên của nhiễm trùng gần như vô hình, do đó, chúng chỉ có thể được xác định bởi những người đặc biệt chú ý đến sức khỏe của họ.

Phương pháp lây nhiễm bệnh

Nhiễm trùng được tập trung chủ yếu ở dịch cơ thể – máu, dịch não tủy, tinh dịch. Khi các chất này khô, virus trở nên không hoạt động.

thông qua giao hợp không được bảo vệ;

trong trường hợp vô tình xâm nhập máu nhiễm vào cơ thể người khỏe mạnh (sử dụng dụng cụ không vô trùng, vi phạm quy trình truyền máu, sử dụng ống tiêm chung giữa những người nghiện ma túy);

từ một người mẹ bị nhiễm bệnh cho con trai của mình trong khi mang thai, sinh con hoặc cho con bú.

Trong cuộc sống bình thường, rất khó bị lây nhiễm theo những cách như vậy, nhưng bạn có thể trở nên dương tính với VIL ngay cả sau khi tiếp xúc như vậy với người bị nhiễm bệnh. Điều này đòi hỏi chất lỏng sinh học có nồng độ virus cao xâm nhập vào màng nhầy hoặc trực tiếp vào máu của người khỏe mạnh.

Bạn cần nhớ một lần và mãi mãi rằng không thể bị nhiễm bệnh:

tiếp xúc với da;

thông qua các món ăn và các mặt hàng gia dụng khác;

bị côn trùng đốt;

giọt nước trong không khí;

khi sử dụng vòi hoa sen hoặc hồ bơi chung.

Vì những lý do này, việc chăm sóc và sống với người nhiễm HIV không gây nguy hiểm. Trong nước mắt, nước bọt, đờm, mồ hôi và nước tiểu, nồng độ của virus cực kỳ thấp, do đó không thể bị nhiễm qua các chất lỏng sinh học này.

Đặc điểm của nhiễm trùng ở nam giới

Các loại sau đây của dân số nam rơi vào nhóm nguy cơ:

quan hệ tình dục bừa bãi mà không sử dụng bao cao su (khoảng 85% trường hợp nhiễm trùng);

người nghiện sử dụng kim tiêm có thể tái sử dụng và ống tiêm không được điều trị;

người đồng tính (khoảng 15% trường hợp nhiễm trùng xảy ra ở những người tiếp xúc đồng tính).

Thống kê xác nhận rằng khoảng 2/3 trong số những người nhiễm bệnh là nam giới. Vài năm trước, số lượng đàn ông bị nhiễm bệnh đã vượt quá số phụ nữ bị bệnh tới 5 lần. Về cơ bản, những người bị nhiễm bệnh ít nghĩ về hậu quả của hành động của họ và không muốn làm theo các biện pháp phòng ngừa đơn giản nhất.

Nhóm rủi ro cũng bao gồm các thủy thủ, người tị nạn, công nhân thời vụ, khách du lịch, người nhập cư. Các yếu tố rủi ro rất nhiều và mơ hồ, do đó rất khó để chỉ ra một trong số chúng một cách cụ thể.

HIV biểu hiện trong bao lâu

Trong vòng 20-30 ngày sau khi nhiễm bệnh ở người, các triệu chứng đầu tiên không đặc hiệu của HIV xuất hiện, dễ bị nhầm lẫn với các biểu hiện của SARS. Theo nguyên tắc, đây là những bệnh hầu như không đáng chú ý, yếu, mệt mỏi liên tục và tăng nhiệt độ lên 38 độ. Sau đó bệnh chuyển sang giai đoạn không có triệu chứng.

Thời gian của giai đoạn tiềm ẩn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của người đàn ông. Nếu anh ta có sức khỏe tốt và có thể trạng tốt, các triệu chứng đầu tiên có thể xuất hiện chỉ sau một vài năm.

Các giai đoạn phát triển của bệnh

Bệnh sau khi nhiễm bệnh qua nhiều giai đoạn:

Thời kỳ ủ bệnh. Nó tiến hành mà không có bất kỳ biểu hiện rõ rệt. Nó có thể kéo dài trong nhiều năm.

Giai đoạn tiềm ẩn. Nhiễm trùng chỉ có thể được phát hiện bằng xét nghiệm máu, và không phải lúc nào cũng vậy. Nhưng thông thường nhất, kiểm tra như vậy cho thấy sự hiện diện của kháng thể đối với virus.

Biểu hiện của HIV. Do sự suy yếu của miễn dịch, các bệnh thứ phát xuất hiện. Bất kỳ nhiễm trùng xâm nhập vào cơ thể gần như không bị cản trở. Giai đoạn này, nếu không được điều trị, kéo dài khoảng 2-3 năm.

AIDS Đây là giai đoạn cuối cùng. Ở giai đoạn này, đơn giản là không thể bỏ lỡ các dấu hiệu của bệnh. Rối loạn miễn dịch nghiêm trọng phát triển, các bệnh thứ phát xuất hiện phá hủy cơ thể bên trong. Nếu không được điều trị ở giai đoạn này, tuổi thọ không quá 3 năm.

Hội chứng suy giảm miễn dịch tự nó được chia thành nhiều dạng theo một tập hợp các triệu chứng chính: phổi, ruột, thần kinh. Trong trường hợp này, tổng thiệt hại cho cơ thể thường được quan sát. Mặc dù nghiên cứu và phát triển y tế nghiêm trọng, cho đến nay không có cách chữa trị căn bệnh khủng khiếp này.

Triệu chứng HIV ở nam giới: dấu hiệu đầu tiên

Các cuộc gọi báo động đầu tiên xuất hiện trong vòng một vài tuần sau khi bị nhiễm bệnh. Đây có thể là sốt cấp thấp, rối loạn tâm lý, khó chịu vô cớ, phát ban lạ trên cơ thể.

Sau một thời gian ủ bệnh, có thể kéo dài, một giai đoạn mới bắt đầu với các triệu chứng rõ rệt:

hạch bạch huyết mở rộng (không đau);

sốt;

ho ướt;

nghẹt mũi;

tiêu chảy cấp hoặc dai dẳng;

giảm cân không có lý do rõ ràng;

đau khớp

đau họng;

các khối u nhỏ màu đỏ tím trên cơ thể;

đổ mồ hôi quá nhiều;

hay quên, thờ ơ, những dấu hiệu đầu tiên của chứng mất trí;

vi phạm lối sống thông thường.

Những biểu hiện này cho thấy cơ thể đã mệt mỏi vì phải chiến đấu và chống lại nhiễm trùng. Khả năng miễn dịch giảm dần, dẫn đến nhiễm trùng nhanh chóng với các bệnh khác nhau.

Hệ thống miễn dịch trở nên bất lực trước cả một đội quân gồm nhiều loại virus, vi khuẩn và các bệnh nhiễm trùng khác.Trong trạng thái khỏe mạnh, cơ thể đối phó với hầu hết trong số họ, nhưng trong trường hợp này, ngay cả một cơn đau họng thông thường cũng có thể gây tử vong cho bệnh nhân.

Đồng thời, các hạch bạch huyết không chỉ sờ thấy mà còn nhô ra rất nhiều trên da đến nỗi nó thậm chí còn báo động người lạ. Thông thường, chúng xuất hiện sau tai, ở nách và xương đòn.

Điều trị virus suy giảm miễn dịch ở người

Rất khó điều trị bệnh do virus liên tục biến đổi. Ngày nay, liệu pháp kháng vi-rút (ARVT) được sử dụng để điều trị. Cô ấy không thể loại bỏ virus khỏi cơ thể, nhưng ức chế sự sinh sản của nó. Do đó, từ bỏ vì chẩn đoán như vậy là không thể. Với sự hỗ trợ của các chất kích thích miễn dịch, bệnh nhân hoàn toàn có thể sống trong nhiều thập kỷ.

Trị liệu cũng bao gồm việc sử dụng các loại thuốc chống vi trùng, kháng vi-rút và thuốc chống nấm được lựa chọn đặc biệt.

Một phương pháp điều trị thống nhất dẫn đến thực tế là vi-rút có được sự đề kháng với các hoạt chất dược liệu và không còn đáp ứng với chúng. Do đó, mỗi lần bệnh nhân xây dựng một chế độ liều riêng.

Đặc biệt chú ý đến dinh dưỡng. Một chế độ ăn uống đầy đủ giúp chống lại các tác động tiêu cực của virus. Bệnh nhân nên ăn thịt, cá, các loại hạt, đậu, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu protein của cơ thể.

Và cũng đừng quên ngũ cốc, ngũ cốc, trái cây và rau quả. Tuân thủ chế độ uống là bắt buộc, vì sử dụng nước đầy đủ giúp giảm tác hại có thể xảy ra khi dùng thuốc mạnh.

Sống với căn bệnh như vậy rất khó khăn, vì vậy bệnh nhân thường trải qua trầm cảm, thờ ơ, không sẵn sàng chiến đấu và bước tiếp. Đặc biệt đối với những người như vậy, nhiều trung tâm đã được tạo ra nơi họ có thể nhận được hỗ trợ và câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi nào. Ở đó, các nhà tâm lý học có trình độ làm việc với những người nhiễm HIV để giúp họ chấp nhận bản thân và không mất lòng.

Tuổi thọ và dự báo

Thống kê cho thấy tuổi thọ của người nhiễm HIV ngắn hơn nhiều so với người khỏe mạnh. Nhưng vào giữa những năm 1990, các nhà khoa học đã thực hiện một nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng ART cho người trẻ tuổi giúp họ có cơ hội sống ít nhất 20 năm.

Tuy nhiên, mười năm trước, con số này đã 33 tuổi và chỉ số này tiếp tục tăng. Dữ liệu gần đây cho thấy một người sau khi bị nhiễm bệnh có thể sống gần 40 năm, nhưng chỉ khi các bệnh thứ phát khác nhau vượt qua.

Do đó, với việc điều trị kịp thời, những người trẻ tuổi bị nhiễm HIV có thể lập kế hoạch tương lai một cách an toàn và sống trọn vẹn.

Điều trị hiện đại đầy đủ cho phép bạn trì hoãn căn bệnh này đến mức giai đoạn AIDS không bao giờ xảy ra. Nhưng đối với điều này, điều cần thiết là bệnh nhân hiểu rằng việc không tuân thủ các khuyến nghị của bác sĩ trực tiếp dẫn đến giảm tuổi thọ và làm nặng thêm bệnh. Trách nhiệm và sự quan tâm cẩn thận đến sức khỏe của bạn là sự đảm bảo tốt nhất cho hiệu quả điều trị.

Phòng chống HIV

Ở nhiều nước trên thế giới, các biện pháp phức tạp đang được thực hiện để ngăn ngừa HIV trong cộng đồng dân số khỏe mạnh. Do đó, mọi người nên biết về điều này. Các biện pháp phòng ngừa rất đơn giản, tuân thủ không khó.

Trước hết, cần loại trừ quan hệ tình dục bừa bãi và không sử dụng các vật thể có thể tiếp xúc với máu của người nhiễm bệnh. Theo các quy tắc này, xác suất lây nhiễm gần bằng không.

Tuy nhiên, chỉ trong trường hợp, mọi người nên được xét nghiệm HIV theo thời gian. Nếu phát hiện nhiễm trùng, nên bắt đầu điều trị ngay lập tức.

Biểu Hiện Vùng Miệng Của Nhiễm Hiv / 2023

I. Mở đầu

Ngoài xuất độ cao, đây còn là một nhóm tổn thương có ý nghĩa về nhiều mặt và được chú ý đến ngay từ thời kỳ mới xuất hiện dịch bệnh vì:

– Những tổn thương này xảy ra trong miệng và do đó tương đối dễ phát hiện và dễ theo dõi.

– Những tổn thương này thường xảy ra khi bắt đầu có tình trạng suy giảm miễn dịch và do đó mang tính báo trước cho sự chuyển giai đoạn AIDS.

– Những tổn thương này ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai nên càng làm cho bệnh nhân suy yếu hơn về thể chất và khả năng đề kháng.

– Gần đây, khi BN được điều trị theo chế độ HAART, có sự thay đổi trong tỉ lệ cũng như mô hình các tổn thương niêm mạc miệng.

Năm 1996, Cộng đồng Kinh tế Châu Âu công bố bảng phân loại của các biểu hiện vùng miệng của bệnh nhiễm HIV như sau:

Nhiễm Candida (dạng màng giả, dạng ban đỏ, dạng tân sinh, chóc mép).

Nhiễm Histoplasma, Cryptococcus, Geotrichosis.

Viêm nướu hoại tử – HIV, Viêm nướu- HIV, Viêm nha chu- HIV.

Tổn thương viêm nhiễm do Mycobacterium avium intracellulare, Klebsiella pneumoniae, Enterobacterium cloacae, E. Coli. Actinomycosis, Bệnh mèo quào, Viêm xoang, nhiễm trùng do răng,…

Herpes Simplex Virus. Cytomegalovirus. Epstein- Bar virus: Bạch sản tóc. Varicella – Zona virus: thủy đậu, zona. Human papilloma virus: Verruca vulgaris, Condyloma acuminata, Focal epithelial hyperplasia.

Kaposi sarcoma. Carcinoma tế bào vẩy. Lymphoma không Hodgkin.

Bệnh dây thần kinh tam thoa.

Liệt mặt.

Loét áp tơ tái phát. Tiêu biểu mô do ngộ độc. Thiếu tiểu cầu nguyên phát. Khô miệng. Loét không điển hình. Chậm lành thương. Phì đại tuyến nước bọt. Tăng nhiễm sắc Melanin.

Nhiễm Candida: ngay từ những báo cáo đầu tiên năm 1981 về hội chứng AIDS đã có đề cập đến nhiễm Candida vùng miệng. Tuy nhiên, hầu như mọi trường hợp mô tả lúc đó đều ở dạng màng giả. Sau này, các dạng khác như dạng ban đỏ, tăng sinh và chóc mép đều được báo cáo với những tỉ lệ khác nhau ở người huyết thanh dương tính.

Nhiễm Candida dạng màng giả: hiện diện như những mảng trắng hay vàng vàng trên niêm mạc đỏ hay bình thường. Khi cạo, mảng trắng tróc ra để lại một bề mặt ướm máu. Vị trí thường gặp ở khẩu cái, niêm mạc má, môi và lưng lưỡi.

Nhiễm Candida dạng tăng sinh: đặc trưng là những mảng trắng không thể cạo đi được. Vị trí thường gặp là niêm mạc má, lùi về phía trong, ngược với vị trí gần khóe mép thường gặp ở những người không bị nhiễm HIV.

Nhiễm Candida dạng ban đỏ hay dạng teo: biểu hiện dưới dạng tổn thương màu đỏ sậm nổi bật hay rất kín đáo. Vị trí thường gặp ở khẩu cái, lưng lưỡi (làm mất gai lưỡi), dạng nhiễm này tuy rất đặc trưng của nhiễm HIV nhưng thường bị bỏ qua vì ít gây triệu chứng lâm sàng và không làm cho bệnh nhân khó chịu.

Chóc mép xảy ra khi bệnh nhân ở vào tuổi trung niên và không kèm theo các yếu tố bệnh căn của chóc mép thông thường như thiếu máu, thiếu vitamin, mất kích thước dọc.

Tỉ lệ người nhiễm HIV có kèm nhiễm nấm candida thay đổi rất nhiều tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm nấm và mẫu điều tra (vào khoảng 66%).

Nhiễm nấm candida đã được nghiên cứu như một dấu hiệu báo trước sự chuyển sang giai đoạn AIDS, đặc biệt là nhiễm candida dạng màng giả.

Klein so sánh 22 bệnh nhân bị hạch toàn thân, có tỉ lệ T4/T8 đảo ngược, đồng thời bị nhiễm candida dạng màng giả, với 20 bệnh nhân ở tình trạng tương tự nhưng không bị nhiễm candida. Theo dõi trong 3 tháng cho thấy ở nhóm thứ nhất có 59% chuyển sang giai đoạn AIDS với sự xuất hiện của những nhiễm trùng cơ hội nặng, hoặc sarcom Kaposi trong khi ở nhóm thứ nhì không có người nào chuyển sang AIDS.

Như vậy, có thể kết luận là một sự suy giảm số tế bào Lympho T4 cùng với sự nhiễm nấm candida là một dấu hiệu tiên lượng xấu, báo trước cho sự xuất hiện AIDS ở bệnh nhân nhiễm HIV.

Chẩn đoán lâm sàng có thể xác định bằng soi tươi hoặc sinh thiết, cho thấy tế bào nấm ở dạng sợi phân nhánh hay bào tử.

Điều trị tại chỗ: dung dịch súc miệng tím gentian, Clotrimazole viên ngậm 10mg 5 lần/ ngày x 14 ngày, dung treo Nystatin (500.000 đv. súc 5 ml x 4 lần/ ngày x 14 ngày), viên ngậm Nystatin (viên 100.000 đv x 4 lần/ x 14 ngày).

Điều trị toàn thân: Fluconazole, viên 100 mg x 2 trong ngày đầu, 1 viên/ ngày trong 14 ngày kế tiếp.

Thường có những biểu hiện trầm trọng hơn bệnh nha chu thông thường, đáp ứng kém hơn với điều trị kinh điển, tiến triển nhanh hơn, gây mất xương và lộ chân răng nhiều hơn.

Viêm nướu viền đỏ: Dấu hiệu thường là một đường viền đỏ ở nướu với những điểm viêm đỏ ở niêm mạc xương ổ, nướu dễ chảy máu dù vệ sinh răng miệng tốt và ít có tích tụ mảng bám. Các điểm viêm đỏ có thể do sự bội nhiễm Candida. Đôi khi thấy gai nướu sưng phồng ở vài vị trí.

Nha chu viêm: Mô nha chu bị tiêu hủy nhanh chóng, đau nhức nhiều, răng lung lay. Trái với bệnh nha chu thông thường, có sự tiêu mất các mô nâng đỡ nhưng túi không sâu. Có thể kèm viêm nướu lở loét hoại tử.

Viêm nha chu lở loét hoại tử: thường chỉ gặp ở trẻ suy dinh dưỡng, hay bị các bệnh làm suy giảm hệ thống miễn dịch. Ở người trưởng thành bị nhiễm HIV cũng dễ thấy bệnh này.

Các vi khuẩn gây bệnh, ngoài một số vi khuẩn thường gặp trong các bệnh nha chu, còn có một số vi khuẩn kỵ khí có độc tính rất cao như: Eikenella, Wollinella, Bacteroides, do tình trạng nhiễm HIV tạo những điều kiện thuận lợi làm cho tạp khuẩn trong khe nướu chuyển đổi sang các giống vi khuẩn có tính gây bệnh mạnh hơn. Thường các bệnh nhân bị nha chu viêm có hệ số T4/T8 thấp hơn các bệnh nhân bị viêm nướu, đồng thời có sự khiếm khuyết của chức năng bạch cầu đa nhân.

Điều trị: các dạng bệnh nha chu ở người nhiễm HIV phải được điều trị bằng biện pháp vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng, có thêm biện pháp rửa các tổn thương với Betadine 10% và súc miệng hàng ngày với 0,12% chlorhexidine gluconate cho đến khi khỏi bệnh. Bệnh nhân bị đau và có tổn thương cấp tính phải được điều trị kháng sinh chống vi khuẩn yếm khí gram âm như Metronidazole viên 500 mg x 2 lần/ x 7- 10 ngày, hoặc Clindamycine và Amoxycilline. Đồng thời phải xử lý đau và tăng cường dinh dưỡng.

Nhiễm khuẩn Lao: Nhiễm khuẩn Lao (Mycobacterium tuberculosis) tăng một cách đáng kể ở người nhiễm HIV. Tổn thương do Lao trong miệng có thể xuất hiện như một vết loét ở lưỡi.

Nhiễm Mycobacterium avium cellulare (MAI) gây nhiễm trùng phổi, trong miệng có thể tạo vết loét có phản ứng viêm hạt và hoại tử xương.

Nhiễm Klebsiella pneumoniae và Enterobacterium cloacae có thể gây viêm loét ở lưỡi, khẩu cái.

Nhiễm Herpes Simplex Virus (HSV): ở bệnh nhân nhiễm HIV, viêm miệng Herpes xảy ra với tỷ lệ 5-13%, gây tổn thương trầm trọng và lan tỏa hơn là ở người không nhiễm HIV, bệnh dai dẳng, khó điều trị dứt điểm và dễ tái phát. Điều trị tại chỗ bằng Acyclovir.

Nhiễm Varicella Zoster virus (VZV): có thể xem như một triệu chứng sớm của nhiễm HIV, ở bệnh nhân HIV khi bị nhiễm virus VZV có 23% bị AIDS sau 2 năm và 46% sau 4 năm. Điều trị toàn thân: Acyclovir viên 800mg x 4 viênx 10 ngày.

Nhiễm Human papilloma Virus (HPV): nhiễm HIV có vẻ làm cho dễ nhiễm HPV vùng miệng với những type HPV ít gặp như type 13, 18, 32 và gây tổn thương phần mềm như papilloma, verruca, condyloma, focal epithelial hyperplasia, carcinoma. Điều trị tại chỗ bằng 5-fluorouracil.

Bạch sản tóc (Hairy Leucoplakia): Bạch sản tóc được mô tả đầu tiên vào cuối năm 1981 ở San Francisco, sau đó được ghi nhận khá phổ biến ở bệnh nhân nhiễm HIV ở nhiều nước. Đó là một tổn thương thường gặp ở bệnh nhân đang ở giai đoạn muộn của nhiễm HIV và AIDS dưới dạng một mảng màu trắng, thường thấy ở hông lưỡi, ở cả 2 bên. Bề mặt có nếp xếp giống như tóc, có khi có bề mặt phẳng, nhẵn láng. Vị trí thường gặp ở hông lưỡi, bụng lưỡi và ít gặp ở niêm mạc má, môi, sàn miệng, khẩu cái mềm, yết hầu. Có khi tổn thưong gây đau rát do bội nhiễm candida. Hình ảnh mô học cho thấy sự tăng sinh lớp gai và lớp sừng, làm cho lớp biểu mô dày lên và có khi tạo những nếp xếp hình sợi tóc. Trong lớp biểu mô thấy có những tế bào phình to hơi giống các koilocyte của nhiễm HPV. Các xét nghiệm labo cho phép phát hiện Epstein – Bar virus (EBV) trong các tổn thương này. Hiện nay, có 2 giả thuyết để thử giải thích tại sao EBV bội nhiễm ở niêm mạc miệng, hoặc là do nhiễm HIV làm mất tế bào Langerhans khiến cho EBV có sẵn tại chỗ được hoạt hóa hoặc thụ thể EBV trên tế bào hong lưỡi bị lộ tối đa khi nhiễm HIV, cho nên dễ gắn virus EBV. Bạch sản tóc là một tổn thương được xem là đặc trưng nhất của nhiễm HIV vùng miệng và cho phép tiên đoán sự tiến gần đến giai đoạn AIDS, tuy nhiên cần phải chẩn đoán sai biệt với một số tổn thương trắng khác. Không cần điều trị bạch sản tóc trừ khi có yêu cầu thẩm mỹ. Ở bệnh nhân được điều trị ART, sự xuất hiện của bạch sản tóc là một dấu hiệu của điều trị thất bại.

Năm 1872, Moritz Kaposi mô tả một loại bướu gọi là “Sarcom nhiều ổ nguyên phát gây xuất huyết” và xem đó là một bướu ác tính của các tế bào thành mao mạch, xuất hiện ở người Phi Châu với một tỉ lệ rất thấp. Khi dịch bệnh HIV xuất hiện ở San Francisco, sarcom Kaposi gây sự chú ý vì xuất hiện nhiều ở nhóm đồng tính luyến ái, và tác nhân gây bệnh được nghi ngờ là virus CMV, herpes… Tuy nhiên, các cố gắng để phân lập virus đều thất bại. Hiện nay, không thể loại trừ khả năng Sarcom Kaposi không phải là một loại tân sinh thật sự mà là kết quả của sự tăng sinh mạch máu do HIV kích thích một yếu tố tăng sinh mạch máu (angioproliferative factor).

Ở bệnh nhân AIDS, sarcom Kaposi thường có những tổn thương nhiều ổ, khởi đầu là dạng ban đỏ, sần hay hòn đỏ xuất hiện ở da hay niêm mạc. Ngoài da, vị trí hay gặp là ở thân người, chân, tay. Ở mặt vị trí đặc trưng là đầu mũi. Tổn thương ở da lan rông và sậm màu dần, và các tổn thương lân cận thì dễ dính lại với nhau. Ngoài ra, sarcom Kaposi có thể ảnh hưởng đến các phủ tạng.

Trong miệng, sarcom Kaposi được để ý đầu tiên vào năm 1982 ở nhóm đồng tính luyến ái ở San Fracisco và sau đó, năm 1988, một nghiên cứu theo dõi trên 134 bệnh nhân cho thấy tổn thương này thường xuất hiện vào tuổi trung bình là 34 tuổi, 45% có đồng thời với tổn thương da và 22% xuất hiện trước. Sarcom Kaposi trong miệng có thể xem là dấu hiệu đầu tiên của giai đoạn AIDS .Vị trí thường gặp trong miệng là khẩu cái, đặc biệt là ở một bên khẩu cái, kế đến là nướu và lưỡi. Tổn thương bắt đầu như một mảng đỏ hơi xanh hay đen kế đến to dần, sậm màu và nổi gồ lên, có bề mặt lở loét hay nhiều múi. Tổn thương thường hơi rắn trước khi loét bề mặt.

Hình ảnh vi thể của Sarcom Kaposi rất đặc trưng, cho thấy có sự tăng sinh những dãy tế bào nội mô hình thoi hay hơi phình, đan vào nhau và rất nhiều mạch máu. Khi Sarcom Kaposi xuất hiện đồng thời với một nhiễm trùng cơ hội, thời gian sống sót trung bình của bệnh nhân từ 6 đến 9 tháng. Sarcom Kaposi ít được ghi nhận ở BN nhiễm HIV ở Thái Lan và Việt Nam. Điều trị bằng cách tiêm Vinblastine sulfate tại tổn thương.

Lymphom không Hodgkin (NHL)

NHL rất hiếm gặp trong miệng so với các vị trí khác như hạch lympho, tủy xương, gan và màng não. Trong miệng vị trí được ghi nhận là: vòng Waldeyer, nướu và tuyến mang tai, làm mô mềm tăng sinh và hủy hoại xương bên dưới.

Khô miệng là nguyên nhân chính gây sâu răng ở người nhiễm HIV. 30%- 40% người nhiễm HIV bị khô miệng do sự thâm nhiễm tế bào CD8 trong các tuyến nước bọt lớn (có thể gây phì đại tuyến hai bên) hoặc do tác dụng phụ của các thuốc ART như didanosine. Những thay đổi về chất và lượng của nước bọt dễ dẫn đến sự giảm khả năng kháng khuẩn, đa sâu răng và viêm nha chu. Người nhiễm HIV nghiện ma túy hay sử dụng methamphetamine, có nguy cơ bị đa sâu răng do khô miệng, nhu cầu ăn đường cao, dinh dưỡng kém và vệ sinh răng miệng kém cùng với tác dụng soi mòn của các chất acid và chất tẩy có trong methamphetamine tinh thể.

III. PHÒNG NGỪA CÁC BIỂU HIỆN VÙNG MIỆNG CỦA NHIỄM HIV

Để phòng ngừa các biểu hiện miệng của nhiễn HIV cần:

Tăng cường các biện pháp vệ sinh răng miệng cá nhân, súc miệng bằng dung dịch tím gentian pha loãng và dung dịch kháng khuẩn, Đi khám định kỳ để điều trị sớm sâu răng, bệnh nha chu và các tổn thương khác, Thực hiện lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng cân bằng.

BS. Huỳnh Anh Lan

Khoa RHM – ĐH Y Dược Tp HCM

Cập nhật thông tin chi tiết về Biểu Hiện Nhiễm Hiv Ở Nam Giới / 2023 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!