Xu Hướng 3/2024 # Bài 6 : Lươngtâm Công Giáo Và Vấn Đề Điều Hoà Sinh Sàn # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bài 6 : Lươngtâm Công Giáo Và Vấn Đề Điều Hoà Sinh Sàn được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài 6

LƯƠNG TÂM CÔNG GIÁO VÀ VẦN ĐỀ ĐIỀU HÒA SINH SẢN

I. GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH.

II.LƯƠNG TÂM VÀ TRÁCH NHIỆM.

III.BA TIÊU CHUẨN.

IV.NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NGỪA THAI.

LỜI HƯỚNG DẪN.

“Bổn phận sinh sản và giáo dục phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thi hành bổn phận ấy, họ biết mình cộng tác với Thiên Chúa Tạo Hóa và như trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Người. Bởi vậy, họ sẽ chu toàn bổn phận mình với trách nhiệm của con người và của Kitô hữu” (MV.50).

I. GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH.

Thông điệp “Sự sống con người” số 10 có viết :“Xét về những điều kiện thể lý, xã hội, kinh tế, tâm lý, tình phụ tử có trách nhiệm được rèn luyện hoặc do quyết định đã suy nghĩ và quảng đại để làm cho gia đình thêm đông, hoặc do quyết định tránh sinh thêm tạm thời hay vô hạn vì những lý do hệ trọng mà vẫn tôn trọng luật luân lý…”

Giáo huấn trên xác định việc điều hòa sinh sản là hợp với ý Thiên Chúa. Gia đình đã đông con, nhưng nghèo túng, thiếu nơi ăn chốn ở, không bảo đảm việc giáo dục con cái xứng hợp và chu đáo, tình trạng bệnh tật… là những lý do chính đáng đôi bạn cần suy xét thận trọng để quyết định ngưng sinh thêm con cái, tạm thời hoặc vĩnh viễn. Tuy nhiên, điều quan trọng là đôi bạn phải luôn tôn trọng luật luân lý mà Hội thánh đã xác định.

Để có quyết định đúng đắn về điều hòa sinh sản, đôi bạn cần phải có lương tâm ngay thẳng và chân chính, có tinh thần trách nhiệm cao, cùng với sự suy nghĩ chín chắn và quảng đại.

II. LƯƠNG TÂM VÀ TRÁCH NHIỆM.

“Hôn nhân và tình yêu vợ chồng tự bản chất qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái… Và đó là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng” (MV. 50).

Nhận thức được sứ mệnh cao quí ấy, đôi bạn phải giải quyết việc sinh sản con cái thế nào cho phù hợp luật luân lý ?

1. Trước hết, đôi bạn cần phải tuân theo tiếng nói chân chính và ngay thẳng của lương tâm.

+ Lương tâm là tiếng nói trong mỗi người, chỉ dẫn điều hay lẽ phải, đòi buộc làm lành tránh dữ, và phải trả lời trước mặt Thiên Chúa về các hành động của mình.

+ Sống theo tiếng nói của lương tâm là hành động theo qui tắc khách quan, nghĩa là phải hành động theo luật Thiên Chúa đã được Hội thánh giải thích và hướng dẫn, chứ không được theo phán đoán chủ quan mù quáng của mình.

+ Đối với vấn đề điều hòa sinh sản cũng vậy : Đôi bạn phải ý thức mình không thể hành động theo sở thích, hoặc vì những lý do chủ quan ; trái lại, phải học biết luật Chúa, và áp dụng giáo huấn Hội thánh vào hoàn cảnh từng gia đình.

Đôi bạn cần phải luôn nhớ rằng : Sinh sản và giáo dục là hai trách nhiệm đồng thời của cha mẹ. Vì thế, khi nghĩ đến việc sinh con, phải nghĩ đến những điều kiện tạm đủ để nuôi dưỡng và giáo dục chúng cách xứng hợp. Không thể chấp nhận việc sinh sản bừa bãi, thiếu khả năng hay phương tiện nuôi sống và giáo dục con cái. Cũng không thể chấp nhận những người vì ích kỷ, lười biếng, vì sắc đẹp mà hạn chế số con cách mù quáng và phi lý.

Để quyết định nên hay không nên hạn chế sinh sản, đôi bạn cần suy nghĩ chín chắn và quảng đại. Một suy nghĩ chín chắn và quảng đại phải đặt căn bản trên :

+ Những lý do chính đáng và khách quan đối với việc hạn chế số con : con cái đã đông, thiếu phương tiện tối thiểu để nuôi sống, giáo dục, tình trạng bệnh tật của cha mẹ…

+ Suy nghĩ và quyết định của cả người cha và người mẹ.

+ Nếu thụ thai dù ngoài ý muốn, đôi bạn phải quảng đại chấp nhận đứa con như là kết quả tiến trình sinh lý tự nhiên mà Thiên Chúa đã thiết lập nơi loài người.

+ Phải tôn trọng tính cách nhân bản việc phối hợp nam nữ và những khả năng sinh sản nơi con người.

+ Phải tôn trọng bản chất tự nhiên của việc phối hợp thể xác là hướng về việc sinh sản trong bầu khí yêu thương của hai người.

+ Phải tuân giữ giáo huấn của Thông điệp “Sự sống con ngưòi” về các phương pháp được sử dụng và những phương pháp không được sử dụng.

+ Phải tôn trọng sự sống ngay từ lúc thụ thai.

III. BA TIÊU CHUẨN THỰC TẾ CẦN TUÂN THỦ.

1. Hạnh phúc của chính đôi bạn.

Mỗi đứa con chào đời phải củng cố và xây dựng tình yêu và hạnh phúc của đôi bạn, vì đứa con là kết quả tình yêu tự hiến giữa vợ chồng. Nhưng đôi bạn cần để ý đến những gì tạo hạnh phúc cho nhau. Người nữ kết hôn trước khi là mẹ, phải là vợ ; người nam cũng thế. Do đó, không chỉ để lo cho con cái mà quên người bạn đời của mình. Đôi bạn phải để ý đến những vấn đề riêng tư của nhau như sức khỏe, tâm lý, ước vọng tương lai…

2. Hạnh phúc của con cái.

Con cái là hồng ân tốt đẹp nhất của hôn nhân. Tác sinh một đứa con là tự ý chấp nhận tạo mọi điều kiện cho nó sống hạnh phúc, sống xứng thân phận con người và con Chúa.

Do đó, đôi bạn cần chú ý đến khả năng tài chính, đến nơi ăn chốn ở, tới việc giáo dục, để tạo hạnh phúc cho con cái.

3. Thiện ích của xã hội và Hội thánh.

Xã hội lớn mạnh là nhờ ở những phần tử cường tráng, chuyên cần làm việc, có những đức tính cao qúy. Do đó, sự lượng định khả năng nuôi sống và giáo dục con cái trở nên phần tử hữu dụng cho xã hội và Hội thánh cũng là tiêu chuẩn mà đôi bạn cần lưu ý để quyết định việc điều hòa sinh sản.

Hội thánh ao ước cho nhân loại được tăng số, nhưng phải là tăng số có ý thức trách nhiệm và trong bầu khí yêu thương đích thực, hơn là ỷ nại mù quáng vào các phương pháp nhân tạo của việc hạn chế sinh sản.

Chính Đức Phaolô VI trên diễn đàn Liên hiệp quốc ngày 04.10.1965 đã kêu gọi thế giới như sau :“Khoa học phải phụng sự và xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, chứ không phải để tiêu diệt nhân loại, phải liệu sao để cơm gạo được dồi dào trên bàn ăn nhân loại, chứ không phải là để kiểm soát cách gỉa tạo, nhằm giảm bớt số thực khách trong yến tiệc cuộc đời”.

IV. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NGỪA THAI.

A. Phương pháp ngừa thai nhân tạo :

Là những phương pháp dùng các cách thế :

+ Hoặc là trực tiếp làm cho không thể thụ thai tạm thời hay vĩnh viễn nơi người nam cũng như nơi người nữ :

Thuốc ngừa thai : thuốc uống, thuốc chích, tây y,đông y;

Bao cao su,vòng xoắn, màng chắn, hóa chất diệt tinh trùng.

Cắt hay cột thắt vòi trứng nơi người nữ và cắt haycột thắt ống dẫn tinh nơi người nam, gọi là triệt sản, triệt sinh.

+ Hoặc là trực tiếp hủy diệt trứng đã thụ tinh hay giết chết bào thai

Điều hòa kinh nguyệt.

Phá thai, nạo thai.

LUÂN LÝ TÍNH :

Thông điệp “Sự sống con người” số 14 ghi rõ :

– Cấm phá thai vì là một tội ác. Sự sống là cao quí, thiêng liêng, dù là một thai nhi tàn tật yếu đuối, quái dị. Trực tiếp phá thai là tội ác có kèm theo hình phạt.

– Cấm những hành động trực tiếp ngăn cản thụ thai hoặc tạm thời hoặc vĩnh viễn trong giải phẫu triệt sản hay triệt sinh.

– Cấm những dụng cụ ngừa thai.

– Cấm các loại thuốc ngừa thai.

– Cấm việc “điều hòa kinh nguyệt” là hình thức phá thai non.

TẠI SAO CẤM ĐOÁN ?

1. Vì các phương pháp ngừa thai trực tiếp đối nghịch với bản chất và mục đích của hành vi thân mật vợ chồng là sinh con cái. Dù không phải bất cứ lần yêu thương thân mật nào đều có thể thụ thai, nhưng việc trực tiếp ngừa thai là nghịch với bản chất và mục đích của hành vi đó.

2. Vì các phương pháp ngừa thai nhân tạo trực tiếp vi phạm đến sự sống mới vừa được hình thành : vòng xoắn hủy diệt trứng đã thụ tinh, “điều hòa kinh nguyệt” trục xuất trứng đã thụ tinh… hoặc đang được phát triển thành thai nhi như phá thai, nạo thai…

B. Phương pháp tự nhiên :

Là những phương pháp vận dụng việc hành kinh tự nhiên trong chức năng sinh sản của người nữ, để chỉ giao hợp trong thời kỳ không thể thụ thai nếu đôi vợ chồng có lý do chính đáng muốn ngưng tạm thời hay dài hạn việc sinh thêm con.

1. Phương pháp Ogino-Knauss : Cách thế sử dụng :

a) Quan sát : Người vợ lưu ý và ghi rõ lịch hành kinh từ 08 đến 12 tháng, ví dụ : sau 8 tháng có lịch trình như sau : 25, 27, 30, 29, 28, 30, 27, 26. Ngày kinh thay đổi từ 25 đến 30 ngày.

b) Làm bài toán trừ : Phải luôn nhớ hằng số : 18-10

+ Lấy số nhỏ nhất trừ cho 18, ví dụ : 25-18 = 7. Ngày 7 là ngày cuối cùng của thời kỳ tương đối an toàn.

+ Lấy số lớn nhất trừ cho 10, ví dụ : 30-10 = 20. Ngày 20 là ngày đầu tiên của thời kỳ tuyệt đối an toàn.

c) Kết luận : Nếu muốn hạn chế sinh con, muốn tránh thụ thai, vợ chồng phải kiêng cữ từ ngày 7 đến ngày 20 kể từ ngày bắt đầu có kinh.

2. Phương pháp Billings hay phương pháp biết ngày trứng rụng, cũng gọi là phương pháp chất nhờn : Căn cứ trên triệu chứng chất nhờn nơi người nữ để định thời kỳ an toàn.

Cách thức bài tiết chất nhờn : hiện tượng này có chung cho tất cả mọi phụ nữ. Mỗi lần rụng trứng, người nữ nào cũng tiết ra một ít chất nhờn từ cổ tử cung. Chất nhờn này biến đổi theo các trạng thái sau đây : từ chất nhờn dính và đục, đến trong, sang độ trong suốt, kéo sợi trắng như lòng trắng trứng gà (đây là giai đoạn tột đỉnh của rụng trứng). Tiếp sau là chất nhờn dính và đục, rồi hết chất nhờn…

Phụ nữ cảm giác được chất nhờn trong suốt này khi đứng hay ngồi hay khi đi lại và lúc đó đạt tới cao điểm của khả năng thụ thai nhất.

Nguyên tắc áp dụng :

a) Trước khi rụng trứng, tuân theo định luật : ngày khô, đêm an toàn, bỏ ngày kế tiếp.

+ Ngày khô : tức là sự khô ráo nơi cửa mình của người nữ vì không có bài tiết chất nhờn. Cần phân biệt chất nhờn này với chất nhờn do âm hạch sản xuất khi người nữ bị kích thích.

+ Đêm an toàn : nghĩa là đêm đó không thụ thai.

+ Bỏ ngày kế tiếp : không giao hợp ngày kế tiếp vì ngày này có tiết ra chất nhờn hoặc do việc giao hợp đêm vừa qua hoặc là chất nhờn báo động ngày rụng trứng.

b) Phải tránh tất cả mọi gần gũi sinh lý trong những ngày có chất nhờn, nếu không muốn thụ thai.

c) Sau hiện tượng tột đỉnh (tức là ngày có chất nhờn trơn, trong suốt và kéo sợi như lòng trắng trứng gà xảy ra trước khi rụng trứng), kể từ đêm thứ tư, ngày nào cũng an toàn, cho tới kỳ hành kinh sau, cho dù có hay không có chất nhờn, không thể thụ thai trong thời kỳ này.

d) Cần quan sát và ghi chú để có kinh nghiệm bản thân về chất nhờn này và thời gian bài tiết chất nhờn nơi người nữ.

Phương pháp Billings rất hiệu nghiệm đối với nhiều phụ nữ, miễn là họ biết áp dụng đúng các nguyên tắc trên.

Ví dụ : Bắt đầu chu kỳ :

Hình vẽ ghi lại các thời kỳ của chu kỳ hành kinh nơi người nữ (chu kỳ 30 ngày)

2) Thời kỳ khô ráo (dài hay ngắn tùy từng chu kỳ và tùy từng người nữ).

3) Chất nhờn xuất hiện và biến đổi :

– Đến trong và bớt dính, trong và trong suốt.

– Hiện tượng tột đỉnh: thời rụng trứng, chất nhờn trong suốt kéo sợi, trắng như lòng trắng trứng gà.

– Chất nhờn trở lại trạng thái dính và đục.

4) Thời kỳ tuyệt đối an toàn (từ ngày thứ 5 đến khi có kinh).

5) Hành kinh lần sau.

Luân lý tính :

1. Các phương pháp tự nhiên không đối nghịch với bản chất và mục đích của hành vi yêu thương thân mật và không trực tiếp ngăn cản việc trứng thụ tinh hay giết chết bào thai.

2. Các phương pháp này có hiệu nghiệm thực sự nếu các đôi vợ chồng lưu ý các nguyên tắc áp dụng đã nêu trên.

BÀI HỌC

18. H. Hội thánh dạy thế nào về việc sinh sản con cái ?

T. Hội thánh dạy : sinh sản phải có trách nhiệm, nghĩa là khi sinh con, cha mẹ phải lo lắng chăm sóc, dưỡng dục để chúng sống xứng đáng phẩm giá làm người và làm con Chúa. Do đó, đôi bạn cần suy xét thận trọng về sức khỏe, kinh tế, giáo dục… để có quyết định đúng đắn.

19. H. Để có quyết định đúng đắn về việc điều hòa sinh sản, đôi bạn phải có những yếu tố nào ?

T. Đôi bạn phải có những yếu tố này :

+ Lương tâm ngay thẳng, chân chính.

+ Tinh thần trách nhiệm cao.

+ Tuân giữ giáo huấn của Hội thánh về việc điều hòa sinh sản.

Bài Giảng Môn Giáo Dục Công Dân 6

TIẾT TÊN BÀI HỌC Ngày Soạn 23 23 Bài 14 THỰC HIỆN TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG 18 – 02 – 2006 I) MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1) Kiến thức: Giúp HS hiểu tính chất nguy hiểm và nguyên nhân chính của các vụ tai nạn giao thông. Tầm quan trọng của TTATGT. Hiểu những qui định cần thiết về luật GTĐB. Hiểu ý nghĩa của việc chấp hành luật lệ ATGT và các biện pháp đảm bảo ATGT khi đi đường. 3) Kỹ năng : Nhận biết một số dấu hiệu chỉ dẫn GT thông dụng và biết xử lý những tình huống đi đường thường gặp. Biết đánh giá ha hành vi đúng hay sai của người khác vế thực hiện TTATGT. Thực hiện nghiêm chỉnh TTATGT. II ) CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS : 1) GV: – SGK và SGV GDCD 6. – Luật GTĐB 2001, Biển báo giao thông. – Bảng thống kê số liệu về tình hình TNGT. – Tranh ảnh, băng hình các vụ TNGT và các tình huống đi đường. – Giấy khổ to, bảng phụ, bút lông, phiếu học tập. 2) HS : Sách GDCD 6, vở ghi chép, Vở bài tập III ) TIẾN TRÌNH TIẾT DẠY: 1) Ổn định tổ chức: Kiểm diện HS, cho HS ngồi xuống. (1’) 2) Kiểm tra bài cũ: (5’) – Em hãy nêu một số quyền và nghĩa vụ CD, các quyền và bổn phận của trẻ em vào bảng sau: (Chuẩn bị trước bảng phụ) QUYỀN NGHĨA VỤ CÔNG DÂN TRẺ EM CÔNG DÂN TRẺ EM – Theo em, HS cần rèn luyện những gì để trở thành CD có ích cho đất nước? 3) Giảng bài mới: a) Giới thiệu bài học: (2’) – GV: Như các em đã biết, GTVT là huyết mạch của nền kinh tế quốc dân, là điều kiện quan trọng để nâng cao cuộc sống của mọi người . GT có quan hệ chặt chẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Vậy có những loại đường GT nào? – HS: Trả lời – GV: Có rất nhiều loại đường GT. Trong bài học hôm nay các em sẽ tìm hiểu TTATGTĐB. Ghi tên bài học lên bảng. b) Giáng bài mới TG HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS GHI BẢNG 10’ 8’ 10’ 8’ HĐ1: HDHS tìm hiểu tình hình TNGT hiện nay – Treo lên bảng Bảng thống kê tình hình TNGT qua 1 số năm từ năm 2000 đến năm 2004. – Cho HS quan sát số liệu 8 tháng đầu năm 2002. ? Qua số liệu trên, em có nhận xét gì về tình hình TNGT? * Chốt lại: Như vậy TNGT ngày càng gia tăng, nhiều vụ nghiêm trọng đã xảy ra, trở thành mối quan tâm lo lắng của từng gia đình, của toàn xã hội. – Tiếp tục cho HS quan sát tranh ảnh về các vụ TNGT: Hỏi: 1. Em có suy nghĩ gì khi xem các hình ảnh đó? 2. TNGT đã để lại hậu quả gì? * Chốt lại: Hậu quả của TNGT rất là lớn. UBATGT của tổ chức y tế thế giới đã cảnh báo: Hiện nay, TNGT là nguyên nhân thứ 9 gây tử vong cho nhân loại trên toàn thế giới. Trong 20 năm tới sẽ trở thành nguyên nhân thứ 3 (Báo An ninh thủ đô số 856 ngày 31-5-2002). Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tai nạn giao thông, các em tiếp tục tìm hiểu. HĐ2: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến TNGT – Cho HS quan sát hình ảnh, xem băng hình. Hỏi: Theo em nguyên nhân nào dẫn đến TNGT? – Nhận xét, bổ sung: Hỏi: Trong số những nguyên trên, nguyên nhân nào là phổ biến? Hỏi: Chúng ta cần có những biện pháp nào để tránh TNGT, đảm bảo an toàn khi đi đường? HĐ3: HDHS tìm hiểu hệ thống biển báo hiệu GT. – Cho HS quan sát tranh + Giải thích hiệu lệnh của người điều khiển gíao thông: chiến sĩ CSGT có dùng tay, gậy chỉ đường, còi để điều khiển – Tiếp tục cho HS quan sát cột đèn tín hiệu + Cho 1 số em đóng vai là một tuyên truyền viên giới thiệu về tín hiệu đèn GT. + Treo tranh 3 loại biển báo GT thông dụng, Hỏi: 1. Khi nhìn vào hệ thống biển báo này, điều gì giúp em nhận biết từng loại biển báo? 2. Em hãy mô tả và nêu ý nghĩa từng loại biển báo? – Giới thiệu thêm: HĐ4: Củng cố bài bằng bằng hình thức tổ chức trò chơi: Phân loại biển báo GT. – Hình thức chơi: + Chia lớp thành 3 tổ, mỗi tổ chọn 3 HS tham gia. + Mỗi HS lấy 3 biển gắn vào bảng phân loại: Bạn thứ nhất gắn vào đúng vị trí xong đến bạn thứ hai và cứ như vậy đến bạn cuối cùng. + Thời gian: 2 phút + GV: Làm giám khảo * Biểu điểm: Gần đúng: 10 điểm + Sai một biển: –1 điểm + Thiếu 1 biển: -1 điểm – Tổng kết trò chơi: Tuyên dương các đội thắng. – Giới thiệu điều 10 – Luật GTĐB (ý nghĩa của các loại biển báo) – Quan sát bảng thống kê – Nhận xét: Tai nạn GT ngày càng gia tăng. – Trả lời: 1. Lo lắng về các vụ TNGT ngày càng gia tăng. Sợ TNGT, có người mất đi cuộc sống, có người mất sức lao động, để lại di chứng suốt cả cuộc đời. 2. Hậu quả: Thiệt hại về tài sản và tính mạng con người (chết, tàn tật, mất sức lao động) – Trả lời: * Nguyên nhân: + Hệ thống đường bộ chưa đáp ứng được yêu cầu đi lại của nhân dân. + Phương tiện cơ giới và thô sơ tăng nhanh. + Dân số tăng nhanh. + Người tham gia GT thiếu hiểu biết về luật GTĐB, chưa tự giác chấp hành luật lệ GT. * Nguyên nhân phổ biến là: Người tham gia GT thiếu hiểu biết về luật GTĐB, chưa tự giác chấp hành luật lệ GT. * Nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ GT, đặc biệt là hệ thống biển báo hiệu GT. – Giới thiệu tín hiệu đường GT: + Đèn đỏ: Các phương tiện tham gia GT phải dừng lại trước vạch cấm. + Đèn vàng: Các phương tiện tham gia GT đã vượt qua vạch cấm được phép đi tiếp. + Đèn xanh: Được đi – Trả lời: 1. Hình dạng, màu sắc, hình vẽ. 2. + Biển báo cấm: Hình tròn, nền màu trắng có viền đỏ, hình vẽ màu đen, thể hiện điều cấm (Gồm có 35 kiểu: từ 101-135) + Biển báo nguy hiểm: HÌnh tam giác, nền màu vàng có viền đỏ, hình vẽ màu đen nhằm báo trước các tính chất nguy hiểmtrên đường để người tham gia GT có biện pháp ngăn ngừa, xử trí. (Gồm có 39 kiểu: từ 201-239) + Biển báo hiệu lệnh: Hình tròn, nền màu xanh lam, hình vẽ màu trắng nhằm báo hiệu điều lệnh phải thi hành (Gồm có 7 kiểu: từ 301-307) + Biển chỉ dẫn: Có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông (trừ biển số 415), nền màu xanh lam, để chỉ dẫn các hướng đi hoặc các điều cần biết. (Gồm có 44 kiểu: từ 401-444) + Biển phụ: Có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông để thuyết minhbổ sung các loại biển báo cấm, nguy hiểm, hiệu lệnh và chỉ dẫn. (Gồm có 9 kiểu: từ 501-509) – Làm thư ký – Các đội thực hiện trò chơi 4) DẶN DÒ : 1’ Làm bài tập b,d SGK Sưu tầm tranh ảnh về các trường hợp vi phạm TTATGT của người đi bộ, đi xe đạp. IV) RÚT KINH NGHIỆM – BỔ SUNG

Điều Trị Các Vấn Đề Về Da Bằng Công Nghệ Prp

Điều trị tất cả các vấn đề về da: sẹo, mụn, nám, lỗ chân lông to, tàn nhang, da xĩn màu, nếp nhăn…

Thích hợp cho cả nam và nữ

Cho làn da trẻ đẹp, đều màu, săn chắc

Giảm tàn nhang, cháy nắng, vết thâm mụn, sẹo, nám, làm sáng da

Se khít chân lông, da mịn màng khỏe khoắn

Sản sinh colagen thay thế, tái tạo độ đàn hồi cho da

Ngăn ngừa và làm chậm quá trình lão hóa da

Làm tăng sức đề kháng cho da

Kích thích phát triển mạch máu, tái sinh các mô bị hư hại, giúp cho tế bào trở nên khỏe mạnh hơn

Được tổ chức FDA (Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ) đánh giá an toàn và hiệu quả trong việc điều trị các vấn đề về da

Sử dụng máu của chính cơ thể người điều trị để tiêm vào da nên hạn chế được tình trạng kích ứng, lây nhiễm và rất an toàn cho người sử dụng

Hiệu quả tức thì sau một lần điều trị

Không phẫu thuật, không xâm lấn, không đau rát

Không mất thời gian nghỉ dưỡng

Quá trình điều trị nhẹ nhàng

An toàn và thân thiện với mọi làn da

Toàn bộ thiết bị máy móc đều được nhập khẩu trực tiếp từ Hàn Quốc với công nghệ chăm sóc da độc quyền của Oracle.

Được các bác sĩ da liễu dày dặn kinh nghiệm trực tiếp thăm khám và điều trị

Ghi chú: Và tùy thuộc vào cơ địa của từng khách hàng mà Oracle sẽ có những kế hoạch điều trị khác nhau với số lần điều trị từ 3, 5 hoặc 10 lần.

Quy trình điều trị sẽ diễn ra trong 4 bước chính:

Bước 1: Làm sạch da trước khi điều trị

Bước 2: Gây tê tại chỗ bằng kem tê

Bước 3: Tiêm trực tiếp huyết tương vào da

Bước 4: Phục hồi và bảo vệ da trước khi ra về.

VIỆN THẨM MỸ Y KHOA HÀN QUỐC

– Địa chỉ 1: 79 Ngô Thời Nhiệm, P6, Q3, TPHCM – Hotline: 1900565627 – 0898774477

– Địa chỉ 2: SH Phong Lan 1, Căn 31, Vinhomes Riverside The Harmony, P. Phúc Đồng, Q. Long Biên, Hà Nội – Hotline: 0889007788 – 0826610088

– Địa chỉ 3: 6 Triệu Việt Vương, P. Bùi Thị Xuân, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội

Giáo Lý Về Vấn Đề Tránh Thai

NHẬP ĐỀ

Một phần tư thế kỷ từ sau thông điệp Humanae Vitae, đã đồng thời xảy ra một sự suy sụp chung về đạo đức mang tên cuộc cách mạng tình dục. Tình trạng này, ngày càng biến đổi sâu xa, từ phong trào híp-pi cổ võ việc làm tình tự do ở thập niên 60, đến việc bình thường hóa hiện tượng đồng tính luyến ái bằng định chế hôn nhân như là nhân quyền. Mặc dù những hiện trạng cực đoan trên chỉ là thiểu số, nhưng giữa thành phần đa số thầm lặng, cuộc cách mạng tình dục này cũng đã gây nên trong họ nhiều mất mát, khi có sự gia tăng về tranh ảnh khiêu dâm, chung chạ tình dục, bất trung trong hôn nhân, ly dị, phá thai, hủ bại tình dục, và những nỗi buồn trong cuộc sống.

Chúng ta đang chứng kiến sự đảo lộn giá trị trong lãnh vực tình dục của con người và đời sống gia đình. Kinh nghiệm thật của tình yêu bị lầm tưởng là sự thèm khát tình dục. Đứa trẻ bị gọi là con hoang đã đành là từ một tình yêu nhảy rào, còn đứa trẻ sinh ra từ tình yêu hôn nhân thì lại bị xem như một sai lầm, với não trạng tránh thụ thai. Tình dục được xem như đồ chơi, trò giải trí, thuần túy mang lại hoan lạc. Tình cờ hay ngẫu nhiên, tình dục đang phá hoại chính bản chất của nó.

Trong thông điệp Humanae Vitae, Đức Giáo Hoàng Phao-lô 6 đã dự đoán về cuộc cách mạng này, khi Ngài cảnh giác chúng ta về những hậu quả tiêu cực trong việc sử dụng phổ biến các biện pháp tránh thai. Ngài đã nhìn thấy tránh thai có thể trở nên mũi dao sắc bén đe dọa toàn diện nền luân lý ( HV,14 ). Hồi tưởng lại quá khứ, ngày nay người ta có thể nhận ra được sự biến dạng của những giá trị tình dục, chính là hậu quả trực tiếp khi áp dụng biện pháp tránh thai trong tình yêu vợ chồng. Để có nhiều người chú ý đến lời giảng dạy của Giáo Hội, chúng ta cần trở về với cội nguồn đạo lý căn bản, hầu chống trả lại cơn thủy triều xanh của chủ nghĩa hưởng thụ và dâm ô.

Chúng ta có một niềm hy vọng thật. Bài diễn từ của Thánh Phao-lô, về tình hình đạo đức dân ngoại xưa trong Rm.3, 24 – 32, thực sự là niềm tin của thời đại chúng ta hôm nay. Chính các Ki-tô-hữu ban đầu đã có thể biến đổi xã hội bằng sức mạnh học thuyết của Đức Ki-tô và Giáo Hội, từ đời sống và hành động xác tín của họ.

Chúng ta hy vọng giáo huấn của Hội Thánh về tránh thai trong bản trình bày yếu lược này, có thể trợ giúp người Ki-tô-hữu sống niềm tin đã lãnh nhận và biến đổi xã hội bằng Tin Mừng. Vấn đề tránh thai được đặt ra dưới nhiều lãnh vực. Chúng ta giới hạn bản trình bày này hoàn toàn trong tôn giáo và các luận cứ thuộc bình diện đạo đức, với xác tín rằng tác giả của luật luân lý cũng chính là Đấng Tạo Hóa và là Chúa của trật tự xã hội, và Ngài không thể mâu thuẫn với chính mình.

I. SỰ PHI LUÂN LÝ CỦA TRÁNH THAI

1. TRÁNH THAI LÀ GÌ ?

Tránh thai là bất cứ hành động nào cản trở sự kết hợp của trứng và tinh trùng trước, trong và sau giao hợp. Các biện pháp tránh thai là bất cứ dụng cụ hoặc thuốc, sử dụng trong tránh thai. Các biện pháp tránh thai thường được áp dụng là: xuất tinh ngoài âm đạo, thắt ống dẫn trứng, cắt ống dẫn tinh, bao cao-su, hóa chất diệt tinh trùng, thuốc viên và chích ngừa thai. Dụng cụ tử cung và viên thuốc sau giao hợp còn tệ hơn cả tránh thai, bởi khả năng trục xuất phôi thai đã hình thành và phát triển; chính xác là phá thai. Phá thai vi phạm đạo đức trầm trọng hơn tránh thai, vì chống lại giới răn thứ năm của Chúa: “Ngươi không được giết người”.

2. TRÁNH THAI CÓ PHI LUÂN LÝ KHÔNG?

Tránh thai là đi ngược lại luật luân lý tự nhiên đối với sự hưởng dùng tình dục. Nó gây hỗn loạn nghiêm trọng đạo đức, và khách quan dẫn đến cấu thành một trọng tội. Bởi thế, hành vi này bị kiên quyết lên án bởi Giáo Hội.

Trong Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy Chúa đã không hài lòng đối với việc tránh thai. Con của Giu-đa là Ô-nan tưởng rằng đứa trẻ sinh ra thuộc dòng dõi của người anh đã chết. “Ô-nan biết rằng dòng dõi sinh ra sẽ không phải là của mình, nên khi ăn ở với chị dâu, cậu lại cho tinh rơi xuống đất, để không cho anh cậu có người nối dõi. Hành động của cậu không đẹp lòng Đức Chúa, nên Người cũng khiến cậu chết.” ( Sáng Thế 38, 9 – 10 ) Thần Học Luân Lý gọi tội này là Onanism, xuất tinh ngoài âm đạo, giao hợp không trọn.

3. TRÁNH THAI CÓ CHỈ LÀ TỘI CHO KI-TÔ-HỮU KHÔNG?

Tránh thai là hành vi phi đạo đức cho mọi người nam và nữ vì sống ngược với luật tự nhiên. Đây là nền tảng tự nhiên đặt trên con người và là chương trình của Thiên Chúa, dành cho nhân loại nhiệm vụ quan trọng là chuyển giao sự sống. Luật luân lý tự nhiên, khác với luật Phúc Âm hay luật Giáo Hội, ràng buộc trên mọi người nam và nữ là con ngưòi. Khi tuyên bố sự phi đạo đức của việc tránh thai, Giáo Hội không áp đặt luật của mình. Giáo Hội chỉ làm tròn nhiệm vụ được Chúa Ki-tô trao: gìn giữ và giải thích xác thực về luật tự nhiên, mà tác giả là Đấng Tạo Hóa của mọi người nam và nữ.

4. TẠI SAO TRÁNH THAI CHỐNG LẠI LUẬT LUÂN LÝ TỰ NHIÊN ?

Tránh thai, là một cám dỗ hấp dẫn trong giao hợp, khi cố tình ngăn cản sự mở ra cho khả năng tiềm tàng sáng tạo sự sống mới, chống lại mục đích thực sự và cấu trúc riêng biệt trong động tác giao phối vợ chồng. Cùng một lúc, người dùng biện pháp tránh thai đi ngược lại giá trị của sự sống, làm hỏng bản chất của tình yêu vợ chồng, tự giảm giá trị và phản lại chính mình cùng người phối ngẫu, và họ quyết tâm yêu sách một quyền năng chỉ dành riêng cho Thiên Chúa. Trong khuôn khổ của 10 giới răn ( biểu tượng của luật tự nhiên ), tránh thai lỗi phạm đến thứ tự từng điều răn: thứ năm, thứ sáu, thứ tám và thứ nhất.

5. TẠI SAO TRÁNH THAI LỖI PHẠM ĐẾN MỤC ĐÍCH CỦA TÌNH DỤC ?

Hôn nhân và cuộc sống tình yêu đã được tự nhiên sắp đặt để truyền sinh ( procreation ) và giáo dục con cái ( GS. 50 ). Sự sinh sản con cái là mục đích nền tảng của hành động phối ngẫu, bắt nguồn từ chính bản chất của tự nhiên. Sử dụng tình dục mà chủ tâm thoái thác khả năng tiềm tàng mở ra cho sự sống, là phá vỡ chính bản chất của tình dục. Đó là lạm quyền, trên chính bản chất tình dục của con người.

Giống như những giới hạn mà chúng ta thường áp dụng trong việc ăn uống và dinh dưỡng. Bản chất tự nhiên của việc ăn uống là nuôi sống. Chúng ta ăn để sống. Khoái lạc cũng đồng thời có được khi ăn uống. Rõ ràng là đi ngược lại với bản chất của ăn uống (ngược lại với luật tự nhiên ), khi chủ tâm thoái thác giá trị nuôi sống, mà chỉ muốn hưởng thụ khoái lạc. Một số người xưa bị chê cười vì ăn uống vô độ, họ móc họng nôn mửa (trong một phòng dùng cho việc nôn mửa), để sau đó có thể trở lại bàn ăn tiếp.

6. TẠI SAO TRÁNH THAI CHỐNG LẠI Ý ĐỊNH CỦA THIÊN CHÚA VÀ BẢN CHẤT SÂU SẮC CỦA HÀNH ĐỘNG PHỐI NGẪU ?

Cấu trúc của hành động phối ngẫu đặt nền tảng trên kế hoạch của Thiên Chúa để lưu truyền sự sống con người. Kế hoạch này được tóm lược như sau:

Bản chất con người bao gồm một thân thể vật chất và một linh hồn thiêng liêng, trong một hữu thể duy nhất. Người nam và người nữ được sáng tạo theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, họ được hưởng chính phẩm giá này. Theo như kế hoạch, thì sự hiện hữu của con người đến trong thế giới, khác với loài thú vật hung dữ, là kết quả tình yêu chân thật của người nam và người nữ, chỉ trong hôn nhân. Qua hành động phối ngẫu, rong phạm vi của hôn nhân và sự mở ngỏ cho sự sống, đôi vợ chồng trao cho nhau món quà tặng là chính mình trong 1 hữu thể, đồng thời cộng tác với Thiên Chúa cho một sự sống mới.

Hành động phối ngẫu là cử chỉ hiệp thông tình yêu giữa đôi vợ chồng, nó có 2 ý nghĩa oặc 2 bình diện: ý nghĩa kết hợp nên một, trong đó đôi vợ chồng diễn tả tình yêu lẫn nhau bằng trao tặng món quà chính mình; và ý nghĩa đồng sáng tạo ( procreative ) khi họ cùng nhận thức tính chất đặc biệt của tình yêu hôn nhân, là Đấng ban sự sống mong muốn tình yêu này được hoàn hảo bằng sự sáng tạo nên một con người mới. Hai bình diện này không thể tách rời được (tính chất này là nguyên tắc). Để bảo đảm cả hai bình iện cơ bản này, phải hướng toàn bộ hành động phối ngẫu vào tình yêu hôn nhân chân thật và ý thức trọng trách của bậc cha mẹ.

7. CÓ THỂ GIẢI THÍCH THÊM GÌ VỀ NGUYÊN TẮC KHÔNG TÁCH RỜI GIỮA TÍNH ĐỒNG SÁNG TẠO VÀ SỰ KẾT HỢP NÊN MỘT TRONG HÀNH ĐỘNG PHỐI NGẪU ?

Ý nghĩa hiệp nhất của hành động phối ngẫu là cách tỏ bày tình yêu duy nhất giữa chồng và vợ, qua việc trao tặng toàn bộ chính mình cho người kia. Khi tránh thai, họ đã dùng ngôn ngữ của thể xác để nói dối nhau, vì ngay khi bộc lộ câu: “Anh trao tặng em tất cả” trong lúc phối ngẫu, người ta đã giữ lại một phần quan trọng của chính mình: thiên chức làm mẹ hay thiên chức làm cha. Bởi thế, hành động phối ngẫu đi cùng với việc tránh thai thì không còn tính hiệp nhất và tính toàn bộ trong tình yêu nữa.

Cũng là phi luân lý khi mở ra cho sự sống mà không có ý nghĩa hiệp nhất, như trường hợp sinh sản trong ống nghiệm và mượn bà mẹ đẻ giúp. Ngoài ra từ những phôi thai gười, thí nghiệm trong bất cứ chương trình nào, đứa trẻ sinh ra rõ ràng không phải là kết quả của tình yêu đôi lứa và hoàn toàn thiếu tính duy nhất.

8. CÁ NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CÓ TỘI GÌ KHI TRÁNH THAI ?

Khi tránh thai, cá nhân lạm dụng quà tặng của tình dục, từ đó làm giảm phẩm giá con người. Vì là một tội trầm trọng, họ đánh mất tình bạn với Thiên Chúa, nguy cơ đến Ơn Cứu Độ đời đời. Tránh thai mở ra cho hôn nhân viễn tượng bất trung và tình trạng sa sút tổng quát về đạo đức. Bởi lẽ đó rất có hại cho gia đình và xã hội. Tránh thai dẫn đến mất tôn trọng phụ nữ, làm cho người nam có thể quen nhìn người nữ chỉ là đồ vật, giúp thỏa mãn sung sướng cho riêng mình, không còn là người bạn đường đáng yêu đáng trọng. Cuối cùng, tránh thai có thể bị lạm dụng bởi những khái niệm quyền cộng đồng, dẫn đến xâm phạm tính mật thiết trong hôn nhân của đôi bạn, khi nó hướng đến chủ nghĩa thực tế vị lợi.

Những hậu quả tiêu cực này, đến sau sự phổ biến thực hành tránh thai, đã được Đức Giáo Hoàng Phao-lô 6 tiên báo trong thông điệp Humanae Vitae. Và nay, dự đoán này đã được chứng thực bằng những điều đang xảy ra trong nhiều xã hội văn minh.

II. KHÔNG CÓ SỰ BIỆN HỘ CHO TỘI

9. CÓ NHỮNG LÝ LẼ NÀO VỀ KINH TẾ XÃ HỘI HỌC, SINH THÁI HỌC, Y HỌC HAY ĐẶC TÍNH NHÂN ĐẠO CÓ THỂ BIỆN HỘ CHO HÀNH VI TRÁNH THAI ?

Trong bất cứ quyết định nào của con người, chiều kích quan trọng nhất là tính luân lý, vì đây là nguồn mạch sâu xa nhất của hạnh phúc nhân loại và ơn cứu độ vĩnh cửu. Không thể có lý lẽ đúng đắn nào, để viện dẫn cho một hành động phi luân lý, bởi lẽ mục đích không bao giờ có thể biện minh cho phương tiện.

Hơn nữa, Đấng Tác Giả của luật luân lý cũng chính là Đấng Tạo Hóa toàn thể vũ trụ. Vì vậy, không thể có mâu thuẫn giữa sự thiện luân lý với bất cứ điều gì tốt thật cho con người. Nhiều viện dẫn về kinh tế xã hội, y khoa, tâm lý hay chủ nghĩa nhân đạo muốn biện hộ cho tránh thai, chứng tỏ mắc phải sai lầm khi đưa ra ý kiến trong lãnh vực này.

Sự “bùng nổ dân số” đã được giải thích thành một huyền thoại, qua cách nhìn của các nhà khoa học xã hội. Sự phát triển dân số không phải là nguyên nhân của nghèo đói, cũng không phải là chướng ngại vật cho phát triển kinh tế. Thế giới dành cho con người chứ không ngược lại. Con người là vốn quý để tăng trưởng và phát triển.

Có rất nhiều hậu quả y học chống chỉ định và tác dụng ngược,đến từ kế sách và thuốc tránh thai. Hơn nữa, khả năng sinh sản là dấu hiệu của sức khỏe. Nếu giới hạn sự sinh sản là một “chương trình sức khỏe”, thì tệ nạn trầm trọng nhất hiện nay ở phụ nữ độc thân là mang thai.

Sự mất cân bằng môi trường sinh thái không phải vì hậu quả trực tiếp của dân số,nhưng vì con người lạm dụng môi trường. Ta gọi là sử dụng chừng mực và điều độ tài nguyên thiên nhiên. Tôn trọng tự nhiên là chỉ dẫn đúng đắn nhất cho ta biết kính trọng chính khả năng đón nhận sự sống. Trong ý nghĩa đó, tránh thai là những hình thức tồi tệ nhất gây đầu độc và sa đọa.

Cuối cùng, khi có tình trạng khó khăn cần giải pháp nhân đạo, phải luôn tính đến tôn trọng phẩm giá con người trong chiều kích thật sự nhân bản. Ngược lại, kế hoạch tránh thai biến đổi người nam hay người nữ, trở thành thú vật, không thể làm chủ đời sống phái tính.

10. CÁI GỌI LÀ “NGUYÊN TẮC TOÀN BỘ” ÍT RA CÓ THỂ BIỆN HỘ MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG VIỆC TRÁNH THAI Ở ĐÔI VỢ CHỒNG VẪN CÓ THÁI ĐỘ TỔNG QUÁT ĐÓN NHẬN CON CÁI KHÔNG ?

Luật luân lý về “nguyên tắc toàn bộ” ( ví dụ một bộ phận có thể thay thế để toàn bộ thân thể khỏe mạnh ) được áp dụng cho một sự việc cụ thể và đồng nhất về chất, như thân thể con người. Luật này không thể áp dụng cho tính “đồng nhất trong lãnh vực luân lý”, cả tính đồng nhất trong môi trường gia đình hoặc xã hội. Nếu không, chúng ta sẽ rơi vào chủ nghĩa luân lý tương đối, dẫn đến vi phạm luật của Chúa khi cho rằng “toàn bộ” thì tốt hơn, như đã xảy ra trong xã hội độc tài chuyên chế Đức Quốc Xã và lịch sử hình thành Liên Bang Xô-viết.

11. THẾ NÀO LÀ “NGUYÊN TẮC ĐIỀU ÍT XẤU HƠN” ? TRÁNH THAI CÓ THỂ ĐƯỢC CHỌN LÀ ĐIỀU ÍT XẤU HƠN KHÔNG ?

Cứu cánh không bao giờ có thể biện minh cho phương tiện. Người ta không thể hành động hay chủ ý muốn một điều xấu, cho dù nếu điều tốt có thể đến sau. Người ta có thể tha thứ, nhưng vẫn có thể không làm cả điều ít xấu. Để tha thứ, con người không làm điều xấu xa, họ thà làm điều gì khác mang bản chất tốt, và vẫn phải tiên liệu được những hậu quả xấu gián tiếp.

12. TA CÓ THỂ “GIÚP THIÊN CHÚA HAY TỰ NHIÊN” BẰNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MỚI ĐỂ ĐẠT MỤC TIÊU ĐIỀU KHIỂN SINH SẢN KHÔNG?

Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng những khả năng được ban tặng trong việc tìm biết chương trình của Ngài. Nhưng tránh thai đích xác là đi ngược ý định mà Chúa đã ghi khắc trong hành vi phối ngẫu của muôn vật. Bằng việc tránh thai, chúng ta không giúp tự nhiên; chúng ta cản trở, phá ngang hay làm hư hỏng tự nhiên.

13. CÓ ĐIỀU GÌ SAI LẦM KHI ĐI NGƯỢC LẠI TỰ NHIÊN ? TA CÓ THỂ LÀM MỘT SỐ ĐIỀU “NGƯỢC TỰ NHIÊN”, MÀ KHÔNG HẲN PHI LUÂN LÝ HAY PHẠM TỘI TRẦM TRỌNG, NHƯ THỂ ĐI BẰNG ĐÔI TAY VÀ ĐỨNG NGƯỢC BẰNG ĐẦU KHÔNG ? TẠI SAO ĐI NGƯỢC LẠI TỰ NHIÊN TRONG HÀNH ĐỘNG PHỐI NGẪU SẼ TRỞ NÊN ĐIỀU TỆ HẠI ?

Sự vi phạm luật tự nhiên trong tránh thai là một vấn đề rất nghiêm trọng vì liên hệ đến những giá trị lớn lao của phái tính, sự sống, và sự cộng tác con người với Thiên Chúa. Giáo Hội không dạy tình dục là xấu. Trái lại, tình dục là điều rất tốt, vì qua nó Thiên Chúa ban cho con người được cộng tác sáng tạo nên sự sống mới.

Việc sử dụng đúng đắn tình dục trong hôn nhân là xứng đáng và đẹp lòng Chúa. Trong ý nghĩa này, tình dục là thiêng liêng. Sự lạm dụng hoặc dùng sai tình dục như một quyền, gây hỗn loạn đạo đức nghiêm trọng. Đó là sự sỉ nhục đối với sự sống và quyền tạo hóa của Thiên Chúa.

Khi bằng việc tránh thai, các đôi vợ chồng nắm lấy khả năng sáng tạo tiềm tàng từ hành vi phối ngẫu tình dục, họ đã đòi hỏi một quyền chỉ dành riêng cho Thiên Chúa, quyền quyết định trong phán xét chung cuộc về sự hiện hữu của con người. Họ chiếm lấy tư cách là kẻ nắm giữ nguồn gốc sự sống con người, chứ không là kẻ cộng sự với quyền sáng tạo của Thiên Chúa. Trong viễn cảnh này, tránh thai được phán xét cách khách quan, là bất chính sâu sắc không thể biện minh, dù với bất cứ lý do nào. Suy nghĩ hay phát biểu ngược lại, là đồng nghĩa với thái độ xác nhận rằng hoàn cảnh sống của con người có thể giúp họ được hợp lệ, từ đó phủ nhận Thiên Chúa là Chúa. ( Gio-an Phao-lô 2, Hội nghị về Trách nhiệm của bậc Cha Mẹ, 17.9.1983 )

14. NHƯNG CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG MỘT XÃ HỘI ĐA NGUYÊN. NHIỀU NGƯỜI THÀNH THẬT TIN TRÁNH THAI KHÔNG PHI LUÂN LÝ. CÓ THỂ THỪA NHẬN MỘT CHƯƠNG TRÌNH TRÁNH THAI ĐỂ MỖI NGƯỜI TỰ CHỌN LẤY PHƯƠNG PHÁP MÀ LƯƠNG TÂM HỌ CHO PHÉP KHÔNG ?

Quan điểm của Giáo Hội đối với tránh thai được đặt nền tảng trên luật tự nhiên. Theo đúng nghĩa này, nó được áp dụng cho mọi người nam và mọi người nữ trong mọi thời đại. Nói cách khác, tránh thai là phi luân lý (một cách khách quan), ngay cả đối với những ai không nhận thức được, giống như bất cứ giáo huấn nào khác đặt nền tảng trên luật tự nhiên, thí dụ sự phi luân lý của tội giết người hay tội trộm cắp.

Chương trình dân số hiện hành của chính phủ Philippines đặt trọng tâm vào tránh thai, đang xúc phạm đến sự nhạy cảm văn hóa và những giá trị tôn giáo tại Philippines. Ngay cả việc giới thiệu rất hạn chế về “kế hoạch hóa gia đình theo tự nhiên” cũng được hiểu như một phương cách khác để tránh thai, trong khi phải xem nó là một lối sống thanh tịnh và yêu thương.

15. CHIẾN DỊCH TUYÊN TRUYỀN TRÁNH THAI CÓ CHỐNG LẠI ĐƯỢC TỆ NẠN PHÁ THAI ĐANG LAN TRÀN KHÔNG ? PHẢI CHĂNG KHI CÓ “NHIỀU PHỤ NỮ TRÁNH THAI” THÌ SẼ CÓ “ÍT PHỤ NỮ PHẢI PHÁ THAI” ?

Khi chấp nhận sự thật rằng phá thai là tội trầm trọng hơn tránh thai, thì cả hai hành vi này đều sai và chứng tỏ đều không tốt đẹp. Hơn nữa, ta đã chứng minh được rằng sự phổ biến thực hành tránh thai làm tăng, thay vì giảm thiểu ảnh hưởng của phá thai. Đó là bởi sự tiện lợi của tránh thai giúp dễ dàng quan hệ tình dục ngoài hôn nhân.

16. NHƯNG NẾU GIA ĐÌNH HỌ CÓ HOÀN CẢNH THỰC SỰ KHÓ KHĂN, THỰC SỰ KHÔNG THỂ CÓ THÊM CON NỮA ? THIÊN CHÚA CÓ THỂ ÁC NGHIỆT, VẪN CẤM TRÁNH THAI KHÔNG ?

Nếu đôi bạn ở trong hoàn cảnh khó khăn nghiêm trọng, có những phương cách khác để không thụ thai (không phải là tránh thai) mà không phi luân lý và giữ gìn được phẩm giá con người, đó là tiết dục theo chu kỳ tuần hoàn tự nhiên. Bằng thái độ tôn trọng sự tiến triển tự nhiên của cơ thể con người, tiết dục theo chu kỳ tự nhiên “dẫn đến khám phá vẻ đẹp của cơ thể mà Thiên Chúa sáng tạo, khám phá sự tôn trọng xứng hợp, và đạt kinh nghiệm trưởng thành trong tình yêu chân chính giữa hai vợ chồng” ( Hội nghị các Giám Mục Philippines, Tình yêu và Sự sống ). Hơn nữa, với cách nhìn Ki-tô Giáo, chúng ta có thể đoan chắc rằng: “không thể có mâu thuẫn thực sự nào giữa luật của Thiên Chúa về truyền sinh với nhu cầu nuôi dưỡng tình yêu chân chính trong hôn nhân” ( FC. 33 ).

Phải kể đến “tính thể xác” và những thời kỳ có thể thụ thai. Cần phải làm tất cả những gì có thể làm được để mọi gia đình, nhất là các vợ chồng trẻ đạt được một sự hiểu biết, nhờ thông tin và giáo dục rõ ràng, kịp thời và nghiêm chỉnh… Sự hiểu biết đó phải đưa đến mức giáo dục để biết kiềm chế. Nhất là sự cần thiết phải có đức khiết tịnh và một sự giáo dục thường xuyên theo hướng ấy… Đức khiết tịnh không phủ nhận hay miệt thị tính dục con người, nhưng đúng hơn nó là một năng lực tinh thần biết bảo vệ tình yêu khỏi những nguy hiểm của sự ích kỷ và của tính bạo động, và đưa tình yêu đến mức thể hiện trọn vẹn…

Việc dùng lý trí và ý chí tự do để làm chủ bản năng tất nhiên đòi phải có một sự khổ chế, vì chỉ những biểu lộ tình yêu trong đời sống vợ chồng mới có thể được điều hòa trong khuôn khổ, nhất là trong việc giữ sự tiết dục theo chu kỳ tự nhiên. Kỷ luật riêng này của sự thanh khiết đôi bạn, không làm hại gì cho tình yêu vợ chồng, mà còn đem lại cho tình yêu ấy một giá trị nhân bản rất cao.

Kỷ luật này đòi hỏi luôn cố gắng, nhưng nhờ ảnh hưởng tốt đẹp của nó, vợ chồng phát triển được toàn vẹn nhân cách của mình, giàu có thêm các giá trị tinh thần, đem lại cho đời sống gia đình hoa quả trong sáng và bình an, giúp giải quyết nhiều vấn đề khác, giúp quan tâm đến bạn mình, ý thức trách nhiệm, tránh được tính ích kỷ là kẻ thù của tình yêu. Nhờ đó, cha mẹ có khả năng ảnh hưởng sâu xa và hữu hiệu hơn trong việc giáo dục con cái ( Trích FC 33 ).

III. LƯƠNG TÂM CẦN ĐƯỢC GIÁO DỤC VÀ HƯỚNG DẪN BỞI GIÁO HUẤN

17. TẠI SAO CÓ MỘT SỐ NGƯỜI HIỂU BIẾT NHIỀU, XEM RA TỐT ĐẠO, NGAY CẢ MỘT VÀI LINH MỤC, CHO RẰNG TRÁNH THAI LÀ ĐƯỢC ?

Đến một mức độ nào mà những Kytô-hữu đó không đi theo giáo huấn trong sáng của Giáo Hội, họ không trở nên một Ki-tô hữu tốt lành. Và nếu một Linh Mục không giảng dạy học thuyết của Giáo Hội, đơn giản là khi đó Ông không làm nhiệm vụ một Linh Mục. Rất có khả năng, họ hiểu sai tầm quan trọng của Giáo Huấn Giáo Hội, và hầu như chắc chắn, họ đã lúng túng trong khái niệm Ki-tô giáo về luân lý và lương tâm.

1 8. ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI ĐÃ CÓ THỂ SAI LẦM KHI KẾT ÁN VIỆC TRÁNH THAI TRONG THÔNG ĐIỆP HUMANAE VITAE KHÔNG ? ĐÃ CÓ NGƯỜI NÓI RẰNG NGÀI CÓ THỂ SAI LẦM, VÌ THÔNG ĐIỆP ĐÃ KHÔNG DÙNG ĐẾN “QUYỀN VÔ NGỘ”

Khi Giáo Huấn dạy tránh thai là phi đạo đức và chống lại ý muốn của Thiên Chúa, đó là lời dạy bảo kiên định của Giáo Hội, không hề do chọn lựa tùy tiện của một vị Giáo Hoàng cô độc. Hơn nữa, vấn đề quan trọng cho mỗi người trong chúng ta, cho hành vi luân lý của chúng ta, không ở chỗ có điều gì không thể sai, mà là có điều gì đúng hoặc sai. Khi dạy bảo việc giết người và cướp đoạt là phi luân lý, thì không cần dùng quyền vô ngộ, mà cũng không cần đưa ra yếu tố không thể sai lầm để quy kết là phi luân lý. Thẩm quyền thông thường của Giáo Hội luôn tôn trọng lời tuyên dạy có tính chân thành tôn giáo.

Mọi người phải lấy ý chí và lý trí kính cẩn tuân phục cách đặc biệt những giáo huấn chính thức của Giáo Hoàng Rôma, dù khi Ngài không tuyên bố từ thượng tòa. Như vậy là kính trọng, nhận biết giáo huấn tối thượng, và chân thành chấp nhận các phán quyết của Ngài, theo đúng tư tưởng và ý muốn Ngài trình bày, đặc biệt biểu lộ qua tính chất các tài liệu, hoặc qua việc Ngài nhiều lần đề nghị một giáo thuyết, hay qua cách diễn tả của Ngài ( LG 25 ).

Bên cạnh lời dạy không ngớt trong giáo huấn thường xuyên của Giáo Hội, tất cả các vị Giáo Hoàng cận đại phải giải quyết vấn đề này đều lên án tránh thai. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 đã duy trì bằng lập đi lập lại giáo huấn của thông điệp Humanae Vitae trong nhiều thể loại văn kiện giáo hoàng, nhắc lại mối liên kết các lời giáo huấn mạnh mẽ này trên hết, về nền tảng tự nhiên của giáo huấn và luật của Thiên Chúa. Do đó, đây là yếu tố rất mạnh để xác định rằng giáo huấn về bản chất phi luân lý của tránh thai không thể sai lầm, đặt nền tảng trên ơn vô ngộ mà thẩm quyền giáo huấn thông thường và phổ quát có thể có được ( x. LG 25 ).

19. GIÁO HUẤN NÀY CÓ THỂ SẼ ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH NHƯ LUẬT ĂN CHAY, KIÊNG CỮ, CHO VAY LÃI… ĐÃ TỪNG THAY ĐỔI TRONG QUÁ KHỨ KHÔNG ?

Khi nói giáo huấn của Giáo Hội về sự phi luân lý của tránh thai được đặt nền tảng trên luật tự nhiên, điều này sẽ không thay đổi trong cốt lõi, nhưng chỉ có thể khai triển mà không đi ngược lại chính bản chất của giáo huấn. Các luật lệ đặc trưng về ăn chay, kiêng cữ không phải là những nguyên lý của luật tự nhiên, nhưng được đặt nền tảng trên sự rèn luyện kỷ luật trong Giáo Hội. Giáo huấn của Giáo Hội về sự phi luân lý của cho vay lãi đã không thay đổi trong cốt yếu, nhưng được phát triển theo khái niệm về tiền tệ tùy thuộc đặc tính của tiền vốn. Cho vay nặng lãi vẫn là phi đạo đức, tuy nhiên tìm kiếm lợi tức không phải là hành vi cho vay nặng lãi, nếu được xét là hợp lý và phù hợp với luật.

“Qua việc định rõ bản chất hành vi tránh thai là bất hợp pháp, Đức Phao-lô 6 muốn dạy rằng tiêu chuẩn đạo đức dành cho vấn đề này không cho phép được hưởng luật trừ. Không một ai hay một hoàn cảnh xã hội nào, từ trước đến giờ hoặc mãi mãi về sau, có thể đưa ra một hành vi hợp pháp trong chính bản chất hơn thế” ( Gio-an Phao-lô 2, Hội Nghị Quốc Tế về Thần Học Luân Lý, tháng 12 năm 1988 ).

20. TÔI ĐƯỢC KHUYÊN RẰNG CÓ THỂ NGHE THEO LƯƠNG TÂM THAY THẾ CHO GIÁO HUẤN NÀY CỦA GIÁO HỘI, VÌ XÉT CHO CÙNG, LƯƠNG TÂM LÀ THƯỚC ĐO LUÂN LÝ GẦN SÁT TÔI NHẤT

Lương tâm là sự phán xét về đạo đức mà chúng ta dành cho từng hành vi riêng biệt, đặt nền tảng trên luật luân lý. Lương tâm không thể đưa ra những phán xét có tính tự trị hay tự đặt ra những luật lệ riêng. Người Ki-tô hữu cần được giáo huấn của Giáo Hội hướng dẫn, mỗi khi họ vận dụng tiếng lương tâm, nếu không, bản thân họ bị lầm lẫn hoặc lương tâm họ sai lạc. Do đó không bao giờ lương tâm có thể là quy luật hoàn chỉnh so với luật luân lý. Vì thế, mỗi người Ki-tô hữu có bổn phận rèn luyện lương tâm của mình, để có được sự hướng dẫn chính xác và bảo đảm trong những hành vi luân lý. Nếu họ thờ ơ việc giáo dục này, sự sai lầm và không hiểu biết có thể gây nên tội đáng khiển trách.

Tuyên bố rằng lương tâm đã chuẩn xác, khi đặt nghi ngờ trên sự thật dạy bởi thẩm quyền Giáo Hội, là hàm ý từ chối khái niệm Ki-tô giáo trong cả hai lãnh vực: thẩm quyền giáo huấn và đạo đức lương tâm ( Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2, như trên ).

Đôi khi, với chỉ một ý tưởng mơ hồ rằng lương tâm là gì, chúng ta có thể nghĩ về nó như “một tiếng nói nhỏ” dạy chúng ta làm điều gì, mà không nghĩ đến việc tham khảo luật luân lý. Theo cách này, chúng ta lẫn lộn lương tâm với ước muốn riêng hay cảm tưởng chủ quan, chúng ta còn có thể lầm lẫn giữa cám dỗ của ma quỷ với tiếng nói của lương tâm.

21. Ở MỘT SỐ QUỐC GIA NHƯ HOA KỲ, CÓ TÌNH TRẠNG ĐA SỐ KI-TÔ HỮU KHÔNG TUÂN THEO LỜI DẠY CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG VỀ VẤN ĐỀ NÀY. VIỆN LẼ GIÁO HỘI CŨNG LÀ “DÂN CHÚA”, TA CÓ THỂ XEM NHỮNG LỜI DẠY NÀY, CŨNG CHỈ LÀ CÁCH DIỄN TẢ “CẢM THỨC ĐỨC TIN” KHÔNG ?

Những nguyên tắc căn bản và những vấn đề thuộc phạm vi luân lý không thể được quyết định bằng bầu phiếu, bởi lẽ ý nghĩa bó buộc của nó đến từ Thiên Chúa, theo luật tự nhiên. Nhiệm vụ cai quản trong Giáo Hội, được thiết lập bởi Chúa Ki-tô, không như một chế độ dân chủ. Đúng hơn, Ngài đã thiết lập một phẩm trật để phục vụ Dân Chúa bằng việc thực thi cùng một lúc ba nhiệm vụ: giáo huấn, thánh hóa và cai quản. Cảm thức đức tin là sự diễn tả đức tin chân thật của Giáo Hội khi tin tưởng điều gì mà Giáo Hội nhận được: đây là điều kiện cần; trong khi thẩm quyền giáo huấn là sự diễn tả đức tin của Giáo Hội khi Giáo Hội giảng dạy: đây là điều kiện đủ. Tình trạng nói trên cho thấy rất cần trợ giúp những người này thực hành đức tin Ki-tô giáo. Không cần dấu giếm về rất nhiều quốc gia Tây phương đang ở trong tình trạng phải cấp bách có một nỗ lực tái rao giảng Tin Mừng.

IV. TỰ KIỀM CHẾ VÀ TỰ CHỦ VỚI HIỂU BIẾT LÀ KHẢ THI VÀ SINH ÍCH LỢI

22. GIÁO HỘI CÓ DẠY CHÚNG TA NÊN CÓ NHIỀU CON CÁI TÙY THEO KHẢ NĂNG SINH LÝ CHO PHÉP KHÔNG ?

Trong khi Giáo Hội khẳng định giá trị của sự sống và loài người, tuân theo huấn thị chung của Thiên Chúa: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” ( St1, 28 ), thì điều này không có nghĩa là có nhiều con cái tùy theo khả năng sinh lý. Theo luật Chúa, Giáo Hội khuyến khích người làm cha mẹ thực hiện trách nhiệm trong sinh sản.

23. CÓ ĐIỀU GÌ KHÁC NHAU GIỮA GIÁO HUẤN VỀ TRÁCH NHIỆM TRONG SINH SẢN VÀ TRÁNH THAI ?

Bình diện quan trọng nhất của trách nhiệm trong sinh sản là tôn trọng trật tự luân lý khách quan do Thiên Chúa thiết lập. Ý thức này sẽ hướng dẫn đôi vợ chồng nhận ra bổn phận của họ đối với Thiên Chúa, chính bản thân họ, gia đình và xã hội, trên một bậc thang giá trị đúng đắn.

Khi đề cập đến số con cái, không thể đánh đồng ý thức trách nhiệm trong sinh sản với ý muốn tránh có con. Trách nhiệm trong sinh sản được thể hiện “bằng quyết định cao thượng và thận trọng để dưỡng nuôi một gia đình sung túc, quyết định này được hình thành từ những lý do nghiêm túc và phải tôn trọng luật luân lý, để không sinh thêm con trong một thời gian định kỳ hay vô hạn” ( HV10 ).

Trách nhiệm trong sinh sản còn đòi hỏi kiến thức hiểu biết và tôn trọng tiến trình sinh học trong truyền sinh, đồng quan trọng với rèn luyện tự kiềm chế và tự chủ bản năng, cảm xúc và đam mê.

24. ĐÔI VỢ CHỒNG CÓ THỂ ÁP DỤNG ĐIỀU GÌ KHI CÓ ƯỚC MUỐN HẠN CHẾ SỐ CON CÁI TRONG THỜI GIAN TẠM THỜI HAY VÔ ĐỊNH ?

Họ có thể tiết dục trong đời sống vợ chồng, hoặc có thể quan hệ tình / dục trong những thời kỳ mà người phụ nữ không có khả năng sinh sản. Sự tiết dục định kỳ là một cách sống tốt và phù hợp luật ( luân lý ) với ai có lý do nghiêm túc và ý thức đúng đắn (khác hẳn não trạng chống lại sự sống hoặc tâm lý tránh thai). Việc quan tâm theo dõi chu kỳ sinh sản tự nhiên trong hôn nhân hoàn toàn không trái luật luân lý, vì hai tính chất hiệp nhất và mở ra cho sự sống được kết hợp khi áp dụng phương thế trên, thì đã có sẵn và không thể tách lìa trong bản chất của hành vi phối ngẫu vợ chồng. Như thế, đôi vợ chồng đón mở sự sống ngay khi họ không cố ý dứt khoát ngăn chặn sự sống. Đây chính là bản chất toàn thể nhân vị và trao hiến trọn vẹn.

25. NHƯNG CẢ HAI NHÓM NGƯỜI SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TRÁNH THAI VÀ TIẾT DỤC THEO CHU KỲ SINH SẢN TỰ NHIÊN, ĐỀU MUỐN CÙNG 1 ĐIỀU. VẬY TẠI SAO KHÔNG DÙNG BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CHO HIỆU QUẢ NHẤT ?

Trên quan điểm luân lý, người sử dụng biện pháp tránh thai và người thực hành tiết dục theo chu kỳ sinh sản tự nhiên cho một lý do phù hợp luật, họ không nhằm cùng mục tiêu. Tên ăn trộm và người công nhân có thể muốn điều giống nhau (tiền bạc để tiêu xài), nhưng tên trộm sử dụng phương tiện phi luân trong khi người kia tôn trọng luật Chúa, cùng là để có tiền ; chưa kể cách thức kiếm tiền sẽ định hình phong cách tiêu xài. Cùng là tiền,với tên trộm là phi pháp, còn với anh công nhân là tìm kiếm sống.

Biện pháp tránh thai khác biệt sâu sắc so với tiết dục định kỳ về bản chất phi luân. Hiểu cách đúng đắn và hoàn chỉnh, kế hoạch gia đình theo tự nhiên ( NFP ) không phải là một biện pháp tránh thai nhưng là một nếp sống tôn trọng luật Chúa.

Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 đã chỉ ra sự khác biệt này như sau:

Về mặt nhân học và luân lý, sự khác biệt giữa tránh thai và sử dụng những thời gian không thể thụ thai là rất quan trọng và sâu xa hơn người ta tưởng, bắt nguồn từ hai khái niệm không thể giản lược với nhau về con người và về tính dục của con người.

Trong hôn nhân, hai vợ chồng hiến thân trọn vẹn cho nhau. Việc tránh thai biểu lộ sự mâu thuẫn ngược lại tự nhiên, khi họ không còn tự hiến cho người kia cách trọn vẹn. Từ đó, không những họ chủ tâm khước từ mở ngỏ cho sự sống, họ còn làm sai lạc chân lý nội tại của tình yêu vợ chồng : tự bản chất là trao ban toàn thể nhân vị.

Việc chọn theo những nhịp tự nhiên bao gồm nhịp sống của con người biểu hiện bằng chu kỳ sinh sản nữ, cũng là đón nhận sự đối thoại, kính trọng lẫn nhau, tinh thần trách nhiệm, sự tự chủ nhờ nếp sống tiết dục. Đón nhận và sử dụng hài hòa thời gian sinh học của con người và không gian đối thoại của vợ chồng, chính là nhận biết đặc tính thống nhất giữa tinh thần và thể xác trong tiến trình hiệp nhất, nơi đây vợ chồng sống tình yêu con người với đòi / hỏi sống thủy chung.

Một khi tinh thần và thể xác được thống nhất, đôi vợ chồng kinh nghiệm được các giá trị phong phú trong ân / ái, họ thể hiện được bản chất sâu xa của hành vi tính dục con người, ngay cả trong bình diện thể lý. Như thế, tính dục xứng đáng được tôn trọng vớ chiều kích thực sự nhân bản, nên không thể được sử dụng như một đồ vật gây tan rã sự thống nhất giữa tinh thần và thể xác trong bản tính người mà Thiên Chúa đã sáng tạo theo hình ảnh mình. ( Trích FC 32 )

26. TIẾT DỤC THEO CHU KỲ SINH SẢN TỰ NHIÊN CÓ KHẢ THI KHÔNG ? PHẢI CHĂNG NÓ ĐÒI HỎI QUÁ NHIỀU Ở ĐÔI VỢ CHỒNG ?

Có nhiều tình huống xảy đến trong cuộc sống, mà vợ chồng được mời gọi sống tiết dục, như : bệnh tật, đi xa, chăm sóc người thân … Như bất cứ khả năng nào của con người, việc quan hệ tình dục đòi phải được lý trí đúng đắn hướng dẫn, không bởi đam mê mù quáng. Tính chân lý của luân lý phải được giương cao luôn luôn, không chỉ trong lãnh vực tính dục, mà cả trong mọi lãnh vực khác. Việc tiết dục định kỳ phụ thuộc vào khả năng chế ngự bản năng, đây chính là một biểu thị nói lên trách nhiệm trong sinh sản. Một khi có thể tự chủ, tình yêu sẽ trở nên nhân bản và chân thật hơn.

Ngoài ra, có nhiều phương thế để phát triển khả năng tự chủ, đặc biệt cậy nhờ vào ân sủng của bí tích hôn phối, tinh thần phó thác của con cái Chúa, và nếp sống khổ chế Kitô-Giáo.

Hơn nữa, những quy phạm này thật phù hợp để giữ đức khiết tịnh của ơn gọi hôn nhân, giúp tránh xa các tổn thương trong tình yêu vợ chồng, và còn đem lại một nhân phẩm cao quý.

6 Bước Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định

3. Hiểu vấn đề

Không phải tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến bạn đều do chính bạn giải quyết. Nếu bạn không có quyền hạn hay năng lực để giải quyết nó, cách tốt nhất là chuyển vấn đề đó sang cho người nào có thể giải quyết. Có một câu nói nửa đùa nửa thật nhưng cũng đáng để bạn lưu ý: “Nhiệt tình cộng với thiếu hiểu biết đôi khi thành phá hoại”. Cũng có những vấn đề bạn hoàn toàn có thể ủy quyền cho cấp dưới thay vì tự mình phải giải quyết, bởi vậy việc phân quyền và khuyến khích tính tích cực của mọi người trong giải quyết vấn đề là điều rất cần thiết.

Nội dung quan trọng nhất khi ra quyết định là sự kịp thời và hiệu quả. Các quyết định cần được xem xét kỹ lưỡng nhưng đảm bảo tốc độ nhanh chóng.

Yếu tố sáng tạo sẽ giúp nhà quản lý tìm được giải pháp đôi khi hơn cả mong đợi. Cần lưu ý là một giải pháp tối ưu phải đáp ứng được ba yếu tố: có tác dụng khắc phục giải quyết vấn đề dài lâu, có tính khả thi, và có tính hiệu quả. Các công cụ hiện đại và ý kiến tham chiếu phát huy mạnh mẽ tác dụng của mình trong bước này. Những phương pháp quyết định có hệ thống sẽ hỗ trợ cho việc sáng tạo, gạt đi các ý tưởng lỗi thời, không phù hợp. Tất cả các lựa chọn cần được cân nhắc kỹ lưỡng và phán đoán kết quả trong tương lai. Khi ra một quyết định quan trọng, nhà lãnh đạo luôn đối mặt với những rủi ro tiềm tàng. Điều này là không thể tránh khỏi. Một vấn đề bạn cần tránh khi ra quyết định là suy nghĩ theo cảm tính thay vì logic, hệ thống.

Khi bạn tin rằng mình đã hiểu được vấn đề và biết cách giải quyết nó, bạn có thể bắt tay vào hành động. Để đảm bảo các giải pháp được thực thi hiệu quả, nhà quản lý cần phải truyền đạt rõ ràng, chính xác, nhanh chóng tới đội ngũ của mình. Bạn cần lên kế hoạch thực thi, xác định ai là người chịu trách nhiệm, phân công công việc, thời gian để thực hiện, những nguồn lực cần thiết là gì, khuyến khích mọi người tham gia lập kế hoạch hành động. Trong quá trình thực thi, các công cụ theo dõi sẽ phát huy tác dụng và cho bạn những phản hồi liên tục về tiến độ, kết quả thực hiện.

Sau khi đã đưa vào thực hiện một giải pháp, bạn cần kiểm tra xem cách giải quyết đó có tốt không và có đưa tới những ảnh hưởng không mong đợi nào không. Những bài học rút ra được ở khâu đánh giá này sẽ giúp bạn giảm được rất nhiều “calori chất xám” và nguồn lực ở những vấn đề khác lần sau.

Kenneth Stott & Allan Waler (1992), Making Management Work – A Practical Approach.

Thực hiện theo các bước trên sẽ giúp bạn giảm thiểu rủi ro, cảm tính và đưa ra được quyết định sáng suốt hơn. Công cụ này cũng giúp bạn tiết kiệm thời gian đối với các vấn đề tương tự hay lặp đi lặp lại nhiều lần, mang tới cách giải quyết triệt để.

Điều Hoà Sinh Sản Theo Phương Pháp Tự Nhiên

ĐIỀU HÒA SINH SẢN THEO PHƯƠNG PHÁP TỰ NHIÊN

Tại Hội Nghị Melbourne tại Úc tháng 2 năm 2005, các nhà nghiên cứu đã phát biểu về “Phương pháp rụng trứng” như sau:Bác sĩ David Perin: “Chúng ta làm việc này cho “cộng đồng”Giáo sư bác sĩ Joseph: “Chúng ta làm việc này cho “mọi gia đình”Giáo sư Ramsey: “Chúng ta làm việc này cho “nhân loại”Sr. Isabel Nauman: “Chúng ta làm việc này cho “Thiên Chúa” § § § § Tất cả đã nói lên tầm quan trọng và mục đích cao cả mà các nhà khoa học của thế kỷ 21 đang thực hiện. Thế còn chúng ta, chúng ta sẽ nói gì ? Thưa, chúng ta làm việc này còn là cho chính con cháu của chúng ta nữa.

Chu kỳ kinh nguyệt có 2 giai đoạn, giai đoạn noãn và giai đoạn Hoàng Thể ( Thể Vàng )Các noãn phát triển do ảnh hưởng của Oestradiol, LH và FSH, thời gian không cố định. * * Giai đoạn Hoàng Thể ( Thể Vàng – Progesterone ) từ ngày rụng trứng đến ngày có kinh tới là ngày 14 ngày. Hiện tượng rụng trứng giữa hai chu kỳ trùng hợp với “đỉnh” của nội tiết LH và FSH do tuyến yên tiết ra là hai nội tiết quan trọng tác động sự biến đổi chất nhờn của tử cung.

Quan sát chất nhờn cổ tử cung thay đổi trong thời điểm giữa chu kỳ kinh nguyệt người phụ nữ có thể nhận biết được ngày giờ rụng trứng. Qua biểu đồ của bác sĩ Billings ( Úc ), ta có thể nhận xét được sự biến đổi chất nhờn cổ tử cung và xác định ngày rụng trứng song song với vi lượng đỉnh cao LH ( Luteinising Hormone ) trong máu.Gấp 10 lần ( 50mg x 10 = 500mg ) Và tùy theo tuổi tácQua việc theo dõi chất nhờn cổ tử cung ta có được nhận xét sau đây:Chất nhờn cổ tử cung biến đổi theo chu kỳ kinh song song theo LH và FSH nội tiết nữ.Chất nhờn cổ tử cung ở ngày trứng rụng “tột đỉnh” là môi trường thuận lợi để tinh trùng sống và di chuyển và di chuyển vào buồng tử cung rồi qua tay vòi thụ tinh.Chất nhờn cổ tử cung giữ vai trò quan trọng trong thụ tinh ở những ngày tột đỉnh.Hiện tượng tâm sinh lý, đời sống sinh dục trong những ngày tột đỉnhCơ thể thay đổi, cảm thấy nặng nề, mập hơn.Vú căng hơn và hơi đau khó chịuDễ bị kích thích, đòi hỏi sinh lý, thích được chiều chuộng hơn.PEAK LH 10ml U / ml – 70ml U / ml Tột đỉnh chất nhờn cổ tử cung: Gấp 7 lần ( 50mg x 7 = 350mg )

1. 2. 3. 4. – – – Người phụ nữ có một đời sống tình dục thầm lặng, ức chế, âm ỉ và thường bộc phát như “núi lửa” trong đời sống vợ chồng, người chồng phải chú ý đến khía cạnh này, phải bù đắp, thông cảm hiểu rõ người đồng hành hỗ trợ như đôi bạn mới quân bình được đời sống tình dục của người phụ nữ ( vợ mình ).

Hiện tại siêu âm xác định tìm trứng rụng để làm thụ tinh nhân tạo cũng kết luận y như vậy. Siêu âm xác định trứng rụng dễ dàng và chính xác, nếu sau 14 ngày thụ tinh nhân tạo mà chưa thấy có kinh, thụ tinh nhân tạo có kết quả cần theo dõi và chờ đợi.Áp dụng phương pháp Ogino-Knaus là theo dõi và ước tính được ngày đầu của kỳ kinh nguyệt sắp tới, Bác sĩ người Nhật, ông Kiusaku Ogino ( 1882 – 1975 ) và bác sĩ người Úc, ông Herman Knaus ( 1892 – 1970 ). Hai bác sĩ Ogino và Knaus ở cách xa nhau, nhưng cùng trong một thời điểm, qua phẫu thuật quan sát ổ bụng, quan sát buồng trứng, định ngày trứng rụng, cả hai cùng có một nhận xét và khẳng định: trừ đi 14 ngày sẽ có được ngày trứng rụng: nếu quan hệ vợ chồng thì hy vọng có con. Giai đoạn “hoàng thể” ( thể vàng ) từ ngày trứng rụng đến ngày đầu của kỳ kinh nguyệt sắp tới là 14 ngày cố định. Nếu kiêng cữ trước 4 ngày và sau 3 ngày ( tổng cộng là 1 tuần lễ ): gọi là tuần lễ dễ thụ tinh, thì xác suất không có thai là rất cao. Phương pháp là như thế nhưng thực hiện không đơn giản vì tỷ lệ phụ nữ có kinh nguyệt không đều và bất thường khoảng 20%. Với những phụ nữ kinh nguyệt trồi sụt này, phải theo dõi chu kỳ kinh nguyệt thời gian từ 6 đến 12 tháng và dùng phép tính của bác sĩ Aly Abbara.

Chu kỳ kinh nguyệt dài nhất 25 ngàyRanh thời gian có thể thụ thai theo phép tính của bác sĩ Aly Abbara:Ngày đầu tiên của giai đoạn có thể thụ thai = + 10 + 25 – 28 = ngày thứ 7 ( rút gọn 25 – 18 = ngày thứ 7 )Ngày cuối cùng hết giai đoạn có thể thụ thai = + 17 + 32 – 28 = ngày thứ 21ø (rút gọn 32 – 11 = 21 ngày )Với những vợ chồng muốn sanh con, thời gian dễ có thai là từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 21 kể từ ngày đầu kỳ kinh. Thời gian khoảng 2 tuần lễ ở giữa.Chu kỳ kinh nguyệt dài nhất 32 ngày

– –

* Lấy ngày của chu kỳ kinh ngắn – 18 ngày = ngày đầu của giai đoạn có thể thụ thai.* Lấy ngày của chu kỳ kinh dài – 11 ngày = ngày cuối của giai đoạn có thể thụ thai. Ở một số người vô kinh nguyên phát và thứ phát và đang trong thời gian cho con bú không thể ấn định được ngày rụng trứng, nên phải phối hợp với phương pháp chất nhờn cổ tử cung ( Phương pháp Billings )

Tại Hội Nghị Melbourne Úc – OMRRCA 2005, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu về sự rụng trứng và chất nhờn cổ tử cung ( Bác sĩ Erik Odeblad ) đã quy tụ về tại hội nghị, báo cáo các công trình nghiên cứu của mình, phổ biến rộng rãi, đưa ra nhiều phương pháp hoàn hảo hơn.Bác sĩ Erik Odeblad nhận định: “Cổ tử cung là một cơ quan chính xác và phức tạp như con mắt vậy !” Phân tích chất nhờn cổ tử cung, người ta nhận thấy:Chất nhờn cổ tử cung tạo nên

Một sự so sánh có tính cách ví von nhưng suy nghĩ và tìm hiểu về chức năng của cổ tử cung, sự so sánh đánh giá này khá chính xác. Một con mắt trong đêm tối “mắt thần” và biết tạo ra những nước mắt: chất nhờn, biến đổi theo chu kỳ, là môi trường sinh sống và di chuyển thuận lợi cho tinh trùng; bảo vệ buồng tử cung và cửa ải để chọn giống.những yếu tố cơ bản cho sự thụ tinh hay không thụ tinh ( bác sĩ Erik Odeblad ) 1. Chất nhờn L: Loại trừ những tinh trùng suy nhược, non yếu và dị dạng: “sự chọn giống của loài người”: “Sự chọn giống trong sinh vật ( loài ong ) và tạo nên cấu trúc chống đỡ cho các loại chất nhờn S và P, tạo cảm giác ẩm ướt và dính 2. Chất nhờn G: chất nhờn G không cho tinh trùng xâm nhập vào cổ tử cung, tạo một hệ thống miễn dịch bảo vệ bộ phận sinh dục nữ khỏi bị nhiễm khuẩn. Khi chất nhờn P và chất nhờn S xuất hiện thì chất nhờn G tạo một cái khung cho tinh trùng di chuyển vào. 3. Chất nhờn F: nằm rải rác theo chiều dài cổ tử cung chưa có nhiệm vụ gì rõ ràng. 4. Chất nhờn hạt Z: là những men sinh hóa phối hợp với chất nhờn P tạo nên sự ẩm ướt. 5. Chất nhờn S: là chất nhờn quan trọng tạo nên những đường ống rãnh để tinh trùng di chuyển dễ dàng và an toàn ( hành lang di chuyển ) và tạo sự ẩm ướt âm đạo. 6. Chất nhờn P: còn chia làm nhiều loại phụ P2, P6. Loại P2 xuất hiện từ đầu giai đoạn có thể thụ tinh làm ẩm ướt thêm với chất nhờn G; Loại P6 xuất hiện gần đỉnh cổ tử cung, eo cổ tử cung tạo sự di chuyển của tinh trùng qua giai đoạn này làm cho âm đạo rất ẩm ướt.

Nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật sinh hóa, các viện bào chế Pharmatex “Acon” đã sản xuất bộ Kit “Test rụng trứng” có bán tại các nhà thuốc. Nhờ phương pháp Ogino, bạn dự đoán tuần lễ trứng rụng, cộng với phương pháp chất nhờn quan sát ngày tột đỉnh. Sáng sớm bạn mở Kit ra, lấy nước tiểu vào ly nhỏ có sẵn, cắm que thử vào, chờ khoảng 3 – 4 phút. Nếu dương tính… que thử sẽ hiện lên 2 gạch ( xem chỉ dẫn cụ thể mỗi loại que thử )

Đây là phương pháp chính xác để định ngày giờ trong công việc Thụ Tinh Nhân Tạo ( chỉ dành riêng cho bác sĩ chuyên khoa vô sinh )

– Ogino-Knaus “mở đường”: chỉ tuần lễ rụng trứng – Billings “chỉ lối”: chỉ ngày giờ chất nhờn tột đỉnh: rụng trứng. Bạn sẽ biết chính xác ngày rụng trứng, người phụ nữ kiểm tra cơ thể của mình, sẽ áp dụng vào việc sinh con hoặc điều hoà sinh sản theo phương pháp tự nhiên một cách dễ dàng.

* Tỷ lệ thất bại theo Tietze là 28% ( 28/100 phụ nữ sử dụng trong 12 tháng ) * Dùng phương pháp Ogino-Knaus và phép tính đơn thuần của bác sĩ Aly Abbara. khoảng thời gian kiêng cữ quá lâu 2 tuần đối với những người kinh không đều. * Con người, nhất là tuổi trẻ, không phải là một chiếc máy, mà là một sinh vật thông minh, nên rất khó áp dụng, vì thế phải được giáo dục cẩn thận và có ý chí. * Phụ nữ ở vùng nông thôn Việt Nam chúng ta bị viêm nhiễm sinh dục ( Trichononas Candidas Abbicans, Escherichia Coli v.v… ) tương đối cao, viêm lộ tuyến cổ tử cung, khí hư nhiều, luôn luôn ẩm ướt âm đạo, nên khó khăn trong việc nhận ra được ngày tột đỉnh.

* Vì là nghiên cứu trên chu kỳ kinh nguyệt của một đối tượng duy nhất, đó là người phụ nữ với ngày rụng trứng của chính họ. Một phương pháp đơn thuần không bao giờ toàn diện và hoàn hảo. Vậy, phối hợp là logic để hoàn thiện phương pháp hơn: hạ thấp tỷ lệ thất bại – nâng cao thành công. * Tùy theo trình độ ý thức, kinh tế xã hội và đặc thù của mỗi phụ nữ, dùng Lịch Điều Hoà Sinh Sản theo Phương Pháp Tự Nhiên để phối hợp cho phụ nữ Việt Nam nhất là ở vùng nông thôn thì đơn giản dễ sử dụng. ( Những người phụ nữ ở thành thị sử dụng đồng hồ điện tử ngừa thai, lịch ngừa thai trên mạng (phải trả 29,95 USD ), siêu âm và que thử Ovutest… )

Lịch Rụng Trứng có 2 vòng tròn: Một vòng cố định và một vòng hướng dẫn xoay được.Trong khoảng thời gian vừa ví dụ trên, bạn theo dõi từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 14, bạn sẽ lưu ý sự ẩm ướt của chất nhờn nơi âm đạo: hiện tượng tột đỉnh đó là ngày rụng trứng. Thời gian trước rụng trứng có chữ Vòng cố định: Vòng có 2 loại tháng 31 ngày và tháng 28 ngày. Một năm có 7 tháng 31 ngày, 4 tháng 30 ngày nên sai số một ngày có thể chấp nhận được, tháng 2 hàng năm có 28 ngày, năm nhuần có 29 ngày nằm ở bên trong. Vòng hướng dẫn: Trên vòng hướng dẫn có mũi tên chỉ ngày đầu kỳ kinh tới. Ví du:ï ngày 24 xoay mũi tên đến số 24, bên đối diện mũi tên ngày rụng trứng chỉ ngày số 10 là ngày rụng trứng theo lý thuyết của Ogino- Knaus. Trên vành vòng hướng dẫn có các chữ khô ráo, chất nhờn cổ tử cung, tột đỉnh và khô ráo. “an toàn tương đối” ( Thời gian có những hiện tượng rụng trứng bất thường, hiện tượng rụng trứng “thỏ” do những ảnh hường về tâm sinh lý và tình dục của đôi vợ chồng, được hiểu là thời gian có thể có thai ) Sau rụng trứng 4 ngày là thời gian “an toàn tuyệt đối” ( Được hiểu là thời gian không thể nào có thai ).

Cách dùng Lịch Rụng Trứng: Xoay vòng hướng dẫn, đưa mũi tên chỉ ngày đầu kỳ kinh tới đến ngày tháng trên lịch vòng ngoài màu vàng, trừ ngược lại 14 ngày là ngày trứng rụng.Phối kiểm với ngày có chất nhờn tột đỉnh trong khoảng thời điểm rụng trứng chỉ dẫn để biết chính xác ngày trứng rụng. Nếu kinh nguyệt đều: Có thể dự đoán ngày đầu kỳ kinh tới một cách dễ dàng. Sử dụng được ngay Lịch Rụng Trứng. Nếu kinh nguyệt không đều: Cần theo dõi từ 6 đến 12 tháng để dự đoán ngày đầu kỳ kinh tới, rồi sử dụng Lịch Rụng Trứng.

– – – Tháng 2 dương lịch chỉ có 28 hay 29 ngày, sử dụng lịch vòng trong có số màu đỏ.

Tôi xin trích ra phát biểu của bác sĩ Billings:“Có rất nhiều lý lẽ đã làm nên một quy luật sinh sản tự nhiên “văn minh và hiện đại” dựa trên nền tảng khoa học, đem lại nhiều sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ. Xác định ngày rụng trứng là điều kiện chính để sinh con theo ý muốn, quan hệ vợ chồng trở nên thoải mái mà không cần đến bất kỳ biện pháp tránh thai nào, và đem lại sự bình an trong tâm hồn cho đôi vợ chồng”. Sự hiểu biết mà phương pháp xác định ngày trứng rụng của bác sĩ Billings theo quy luật sinh sản tự nhiên đem lại, phải được tất cả mọi người phụ nữ hiểu biết và hy vọng họ sẽ trở thành những “đồng hồ” sinh sản tự nhiên.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài 6 : Lươngtâm Công Giáo Và Vấn Đề Điều Hoà Sinh Sàn trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!