Bạn đang xem bài viết 5 Năm Chìm Trong Khủng Hoảng Của Venezuela được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.
Khi Nicolas Maduro năm ngoái đắc cử nhiệm kỳ hai trong cuộc bầu cử bị một số chính phủ nước ngoài coi là “giả dối”, ông tuyên bố giờ mình là “tổng thống dày dặn kinh nghiệm hơn”.
Nhưng hai tuần sau khi tuyên thệ nhậm chức, ông đang đối mặt với thách thức lớn nhất trong sự nghiệp: Thủ lĩnh đối lập Juan Guaido hôm 23/1 tuyên bố mình là tổng thống lâm thời của Venezuela. Đây là cao điểm căng thẳng sau 5 năm Venezuela lâm vào khủng khoảng.
Tháng 3/2013, lãnh đạo lâu năm của Venezuela Hugo Chávez qua đời vì ung thư. Người kế nhiệm, Nicolas Maduro, tiếp nối những chính sách phúc lợi và kiểm soát giá cả của Chavez.
Các chính sách của Maduro thất bại. Venezuela, nước từng có nền kinh tế giàu có bậc nhất châu Mỹ Latin với trữ lượng dầu lớn hơn Arab Saudi và Iran, nhanh chóng rơi vào suy thoái, theo CNN.
Chi phí nhu yếu phẩm, thực phẩm, thuốc men vượt ra ngoài tầm với của người dân, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ tội phạm cũng tăng vọt. Việc giá dầu giảm năm 2016 khiến kinh tế nước này thêm khó khăn. Năm 2017, tỷ lệ lạm phát của quốc gia Nam Mỹ vượt quá 2.600%
Trong báo cáo công bố tháng 5/2018, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết hầu hết người Venezuela không ăn đủ no. Nhiều người rời bỏ đất nước để tránh khủng hoảng. Liên Hợp Quốc ước tính ba triệu người Venezuela đã di cư từ năm 2014.
Khi sự giận dữ của công chúng với Maduro tăng lên, ông tìm cách củng cố quyền lực. Maduro cố gắng vô hiệu hóa cơ quan lập pháp sau khi phe đối lập nắm quyền kiểm soát quốc hội năm 2015. Tháng 3/2017, Tòa án Tối cao Venezuela, gồm nhiều người trung thành với Maduro, tuyên bố họ có quyền tước bỏ mọi quyền lực của quốc hội.
Tòa án Tối cao sau đó rút lại nỗ lực vô hiệu hóa quốc hội, nhưng Maduro tiếp tục công bố kế hoạch viết lại hiến pháp Venezuela. Tháng 5/2017, bất chấp bị lên án mạnh mẽ, Maduro tuyên bố thành lập một hội đồng lập hiến mới có quyền tối cao đối với tất cả các nhánh trong chính phủ – tức là có thể thay thế quốc hội do phe đối lập kiểm soát.
Khi Maduro đắc cử vào tháng 5/2018, nhiều cử tri đã tẩy chay cuộc bầu cử này. Tỷ lệ cử tri đi bầu là 46%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 80% của cuộc bầu cử năm 2013.
Mỹ không công nhận kết quả bầu cử. Canada và một liên minh gồm 14 quốc gia Mỹ Latin cũng tuyên bố cuộc bỏ phiếu này bất hợp pháp, bao gồm Argentina, Mexico, Brazil, Chile, Colombia, Panama, Paraguay, St. Lucia, Guyana, Peru, Honduras, Guatemala và Costa Rica.
Maduro tuyên thệ nhậm chức đầu tháng này, 8 tháng sau cuộc bầu cử. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự đoán lạm phát sẽ lên đến 10 triệu % năm 2019. Chính quyền Maduro liên tục tăng lương tối thiểu, khiến lạm phát ngày càng trầm trọng.
Chính quyền Trump gây áp lực với Maduro bằng các biện pháp trừng phạt tài chính. Trong khi đó, Maduro cáo buộc Mỹ “khủng bố kinh tế”, gây ra tình trạng khó khăn của Venezuela.
Thủ lĩnh đối lập Juan Guaido, 35 tuổi, tuần này thách thức Maduro. Guaido nổi lên từ cuối năm ngoái, khi lực lượng an ninh Venezuela bắt khoảng 30 người, trong đó có ông và hai tướng quân đội, sau âm mưu ám sát hụt nhằm vào Maduro trong cuộc duyệt binh ở Caracas hôm 4/8/2018. Sau khi được thả, nghị sĩ trẻ này vào tháng một được bầu làm chủ tịch quốc hội.
Ngày 23/1, Guaido tuyên bố mình là tổng thống lâm thời trong cuộc biểu tình chống chính phủ lớn ở Caracas. Ông nói rằng ngày này đánh dấu sự khởi đầu của một phong trào không thể ngăn cản nhằm khôi phục nền độc lập và dân chủ. Các cuộc đụng độ nổ ra giữa lực lượng an ninh và người biểu tình. Vệ binh Quốc gia phun hơi cay vào đám đông.
Trong khi đó, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Cuba và Bolivia đứng về phía Maduro. Giới lãnh đạo quân sự Venezuela và Tòa án Tối cao nước này vẫn giữ trung thành với Maduro.
Vài giờ sau khi Trump công nhận Guaido, Maduro tuyên bố cắt quan hệ với Mỹ và cho các nhà ngoại giao Mỹ 72 giờ để rời khỏi nước này. Venezuela còn đóng cửa đại sứ quán, lãnh sự quán ở Mỹ và rút về tất cả nhân viên ngoại giao.
Chưa rõ cuộc khủng hoảng này sẽ đi đến đâu. Guaido đã vạch ra một lộ trình cho Venezuela: Sau khi thành lập chính phủ chuyển tiếp, ông sẽ khôi phục thượng tôn pháp luật và sau đó tổ chức bầu cử tự do để “tất cả người dân Venezuela có thể quyết định tương lai”.
Phương Vũ
Tuần Khủng Hoảng (Wonder Week) Là Gì? Bảng Dự Đoán Các Tuần Khủng Hoảng Của Trẻ
Người mẹ giật mình thức giấc, nhanh chóng rời khỏi giường và chạy vào phòng trẻ. Em bé sơ sinh nhỏ xíu mặt đỏ bừng, tay nắm chặt và khóc thét. Người mẹ theo bản năng bế con và đung đưa trong tay. bé vẫn gào thét.
Người mẹ thử mọi thứ để xoa dịu sự khó chịu của bé, nhưng có vẻ đều vô ích. “Có gì không ổn với con chăng?” người mẹ băn khoăn. “Mình có làm gì sai không?“
Nếu điều này nghe có vẻ giống bạn, xin chúc mừng, bạn đang ở đúng chỗ rồi. Hoby hứa sẽ giúp bạn vượt qua điều trên sau khi xem hết series này.
Bài viết này nói về
1. Wonder week là gì? Mental leap là gì?
1.1 Khái niệm Mental leap là gì?
Để tìm hiểu về wonder week thì trước tiên phải hiểu về các bước nhảy vọt (Mental leap) đã.
Mental leap ( bước phát triển nhảy vọt ) là quá trình phát triển thể chất của trẻ. Trẻ có thể không lớn lên chút nào trong một thời gian, nhưng sau đó lại cao hơn nửa phân chỉ sau một đêm.
Những thay đổi này giúp trẻ học được nhiều kỹ năng mới (bò, lật, lẫy,…), vì thế, đây đáng ra là tin vui mới đúng. Nhưng đối với trẻ, những thay đổi này lại khiến bé bị lạ lẫm, bất ngờ – mọi thứ thay đổi chỉ sau một đêm. Cứ như thể bé vừa mới bước chân vào một thế giới hoàn toàn khác vậy.
Sẽ có 10 bước nhảy vọt quan trọng mà tất cả các em bé đều trải qua trong 20 tháng đầu đời. Nó cho bạn biết mỗi một sự phát triển đó có nghĩa là gì đối với hiểu biết của trẻ về thế giới. Và cách trẻ sử dụng hiểu biết đó để phát triển những kỹ năng mới mà trẻ sẽ cần trong mỗi giai đoạn phát triển.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng quá trình phát triển trí óc của trẻ cũng vậy. Các nghiên cứu về thần kinh học cho biết có những thay đổi quan trọng, nhanh chóng diễn ra trong não của trẻ dưới 20 tháng tuổi. Sau mỗi một thay đổi đỏ, lại có một bước tiến tương ứng trong sự phát triển trí não của trẻ.
1.2 Tuần khủng hoảng là gì? Tuần Wonder week ở trẻ là gì?
Mỗi bước nhảy vọt được báo trước bằng một giai đoạn được gọi là Wonder week ( Tuần lễ khủng hoảng, giai đoạn nhặng xị hoặc chu kỳ bám dính ). Trong đó trẻ đòi hỏi nhận được sự quan tâm nhiều hơn của mẹ hoặc người chăm sóc khác.
Mười bước phát triển nhảy vọt mà trẻ sơ sinh đều trải qua này không nhất thiết phải giống với các bước phát triển bộc phát về mặt sinh lý, dù đôi khi chúng có thể trùng khớp.
Những kiến thức sắp tới Hoby chia sẻ dựa trên nền tảng cuốn sách The Wonder Weeks của nhà nhân chủng học vật lý Hetty van de Rijt và nhà thần thoại học, nhà tâm lý học phát triển Frans Plooij. Website tham khảo là: https://www.thewonderweeks.com/
Đây là cuốn sách Hoby rất tâm đắc. Ba mẹ sẽ hiểu vì sao con quấy khóc, khó chịu. Từ đó hiểu và chăm sóc bé tốt nhất từ những giai đoạn đầu đời.
2. Dấu hiệu của trẻ trong các tuần wonder week
Trong suốt giai đoạn wonder week, bạn sẽ nhận thấy những hành vi mới đang xuất hiện.
Những phát triển thể chất cũng có thể được nhìn thấy. Chẳng hạn, bé bắt đầu có một chút kiểm soát đối với cơ thể mình, vì giờ bé đã có thể nhận ra cách tay và chân hoạt động như thế nào và có thể kiểm soát chúng
“Dấu hiệu quan trọng nhất của thay đổi lớn là hành vi của trẻ có xu hướng tệ đi một cách khó hiểu.”
Đôi khi có vẻ như bé đã thành một đứa trẻ khác.
Bạn sẽ nhận thấy sự nhặng xị không hề xuất hiện những tuần trước.
Khóc không lý do
Bám mẹ 24/24
Tâm trạng thất thường: đang cười đùa thì trở sang khóc hay ngược lại
Điều này khiến bạn cực kỳ lo lắng, đặc biệt là trong lần đầu tiên bạn gặp phải chuyện này, nhưng đó lại là điều hoàn toàn bình thường.
3. 10 Tuần khủng hoảng – Bảng dự đoán các tuần wonder week của trẻ
10 thay đổi lớn mà trẻ sẽ trải qua trong 20 tháng đầu đời, ở các tuần thứ 5, 8, 12, 19, 26, 37, 46, 55, 64 và 75. (Khoảng 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi)
Ứng với số tuần tuổi của trẻ sơ sinh, hãy xem các diễn biến wonderweek xuất hiện và những gì bạn cần chuẩn bị cho con mình.
Thời điểm diễn ra The Wonder Week
Tuy nhiên, các tuần wonder week vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt cho tới khi bé bước vào độ tuổi mầm non. Một vài bước phát triển nhảy vọt nữa có thể kéo dài tới tận những năm tháng vị thành niên của trẻ.
Những tuần khủng hoảng ban đầu ở giai soạn sơ sinh không kéo dài quá lâu. Chúng có thể chỉ ngắn khoảng vài ngày. Khoảng cách giữa những giai đoạn ban đầu này cũng ngắn – trung bình là khoảng 3 hoặc 4 tuần.
Sau này, khi những thay đổi mà bé sơ sinh trải qua trở nên phức tạp hơn, tuần wonder week sẽ kéo dài hơn thành khoảng từ 1 đến 6 tuần, để trẻ có thể thích nghi được.
Mỗi trẻ mỗi khác. Có những trẻ thấy thay đổi khó chịu, phiền phức hơn những trẻ khác. Và cũng có những thay đổi khó chịu hơn so với những thay đổi khác. Nhưng tất cả các bé đều sẽ bối rối ở một mức độ nào đó khi những thay đổi lớn này diễn ra.
4. Các mốc wonder week có ý nghĩa gì đối với bạn và bé?
Ồ, rất có ý nghĩa đấy!!
Trước đây bạn có cảm thấy mệt mỏi, bất lực. hay suy nghĩ tiêu cực, cảm thấy chồng/vợ không quan tâm không? Đó là một trong những dấu hiệu của trầm cảm sau sinh đấy.
Và nguyên nhân chính của trầm cảm sau sinh chính là sự khó khăn, sự bất lực trong quá trình nuôi dạy trẻ.
Khi bạn đã hiểu và có sự chuẩn bị cho wonderweek ở trẻ, bạn sẽ hiểu hơn tại sao con khóc, tại sao con không ăn. Điều đó làm cho cả bạn và bé thoải mái, từ đó giảm căng thẳng cho cả 2.
Tuy nhiên!!
Đây không phải là cách để biến con bạn trở thành một thiên tài.
Đây là những cách hiểu và ứng phó với con khi con khó chịu. Và làm sao để cả ba mẹ và bé thoải mái khi bé phát triển. Hoby sẽ tập trung vào niềm vui và nỗi buồn của việc lớn lên cùng con.
5. Những gì bạn cần để cùng con vượt qua giai đoạn này?
Tất cả những gì cần là:
Một người cha/người mẹ (hoặc cả hai) giàu tình thương
Một em bé lanh lợi, to mồm, đang lớn
Một tinh thần sẵn sàng lớn lên cùng con
Sự kiên nhẫn
Đừng mạnh tay với con khi tức giận.
Một vật dụng bạn nên có để giúp bạn vượt wonderweek dễ dàng hơn: Địu vải
Đây là vật dụng mà tất cả những gia đình có trẻ sơ sinh ở Châu Âu đều dùng để vượt Wonder Week, nhưng ở Việt Nam thì ít người biết đến công dụng của nó.
Tại sao bạn lại cần địu vải mà không phải các địu khác, địu vải giúp vượt wonder week như thế nào?
6. Những kiến thức bạn cần biết để lớn lên cùng trẻ
Trẻ phát triển như thế nào? Bạn sẽ biết con bạn phát triển như thế nào bằng cách tạo ra “những bước nhảy vọt” trong quá trình phát triển tinh thần mà trước đó là những giai đoạn “sóng gió” khi trẻ luôn luôn nhặng xị, cáu gắt và thất thường.
Khi bạn thấy cần sự giúp đỡ để có thể hiểu được giai đoạn phát triển hiện tại của con. Bạn không cần phải nghiên cứu tất cả bài viết. Nếu con bạn đã lớn hơn một chút, bạn có thể bỏ qua các tuần đầu, và đọc những tuần theo tuổi của bé là được.
Hoby hy vọng giúp các bố mẹ hiểu được trẻ đang trải qua điều gì, để giúp trẻ vượt qua được những giai đoạn khó khăn. Từ đó khuyến khích trẻ khi trẻ thực hiện “nhiệm vụ” lớn lên khỏe mạnh. Hiểu rõ về tuần khủng hoảng ở trẻ để giúp trẻ lớn lên khỏe mạnh
Hoby cũng hy vọng bạn có thể san sẻ cùng con niềm vui và thách thức của việc lớn lên. Trên hết cả, chúng tôi hi vọng bạn sẽ có được sự bình yên trong tâm hồn và sẽ tự tin vào khả năng nuôi dạy con của mình. Chúng tôi kỳ vọng những kiến thức Hoby chia sẻ là sự hướng dẫn không thể thiếu trong 20 tháng quan trọng đầu đời của con bạn.
Tuần Khủng Hoảng Ở Trẻ (Wonder Week)
Trong những tuần khủng hoảng này, mẹ sẽ phải đương đầu với 3 biểu hiện chính của trẻ hay còn gọi là 3C – Crying (Khóc lóc), Clinginess (Đeo bám), và Crankiness (Cáu kỉnh).
Nguyên nhân là do trẻ chưa thích nghi kịp với các thay đổi về mặt nhận thức, cảm nhận và thể chất của bản thân mình. Đây là cả một quá trình trẻ “học hỏi và rèn luyện” đấy mẹ ạ.
Các tuần wonder week ở trẻ bố mẹ cần lưu ý
Trong 2 năm đầu đời, trẻ sẽ trải qua 10 tuần khủng hoảng ở các tuần thứ 5-8-12-19-26-37-46-55- 64-75.
Khóc nhiều hơn, hay cáu gắt…
Tâm trạng thất thường, đang chơi vui vẻ tự nhiên cáu hoặc ngược lại.
Làm nũng, muốn bố/mẹ chơi cùng trẻ nhiều hơn.
Nghịch hơn
Khó ngủ, giấc ngủ không sâu, ngủ ít.
Biếng ăn
Làm thế nào để cùng con vượt qua tuần khủng hoảng?
Vì đây là phản ứng tâm sinh lý tự nhiên của trẻ trong quá trình phát triển, mẹ có thể áp dụng kinh nghiệm của các bậc cha mẹ trên khắp thế giới, được đúc kết bằng hai từ “mặc kệ”. Hãy để trẻ được tự do quấy khóc, thoải mái trong không gian riêng của mình.
Mẹ có thể áp dụng một số mẹo sau để trẻ cảm thấy dễ chịu hơn:
Cho con ngủ giấc đêm sớm hơn bình thường 30-45 phút.
Không nên ép con ăn, tránh biến biếng ăn sinh lý thành biếng ăn tâm lý. Mẹ chỉ cần đợi đến lúc con đói và đòi thì hãy cho ăn.
Quan tâm con nhiều hơn, cùng chơi các trò chơi để luyện tập các kĩ năng con đang học.
Khi con quấy khóc, mẹ hãy giúp con quên đi sự khó chịu bằng cách cho con thực hiện hoạt động con thích nhất như mát xa, ôm ấp, cho con đi ra ngoài chơi, nghịch nước.
Những kĩ năng trẻ đạt được sau wonder week:
Sau những tuần khủng hoảng, trẻ sẽ đạt được những thay đổi về mặt kỹ năng có thể khiến mẹ bất ngờ đấy!
Tuần thứ 5 – “Thế giới của sự thay đổi cảm nhận ở các giác quan”
Ngay sau khi đầy tháng trẻ sẽ bắt đầu “khó chiều” hơn nhưng mẹ đừng lo. Sau wonder week 1, trẻ sẽ bắt đầu biết nhìn mọi vật chăm chú hơn, muốn chạm vào mọi vật, cảm nhận được mùi hương…, đó là vì giác quan của trẻ đã đạt được một mốc phát triển mới rồi.
Tuần thứ 8 – “Thế giới của sự khám phá”
Trẻ sẽ có thể giữ đầu ổn định hơn, quay đầu về phía âm thanh, bắt đầu có dấu hiệu quan tâm đến đồ chơi, khám phá và quan sát những bộ phận cơ thể của mình. Trẻ còn có thể phát ra những âm thanh gầm gừ nho nhỏ nghe rất thú vị đấy.
Đây chính là mốc thời gian đánh dấu sự chuyển biến lớn đầu tiên của trẻ. Con sẽ bắt đầu biết lẫy, lật sấp, lật ngửa, ngóc đầu, cười nhiều hơn và thích nghe những âm thanh với tần số khác nhau.
Sau khi hết giai đoạn “khó chịu” này, trẻ sẽ bắt đầu biết cầm nắm, biết ngồi dậy, nhổm người, bắt đầu biết hét và cười rất to.
Con sẽ bắt đầu nói những từ đơn, biết trả lời câu hỏi ngắn, biết chỉ vào đồ vật mà mình muốn, thích chơi xếp chồng đồ vật.
Trẻ có khả năng đi vịn hoặc có thể đi vững, thích cầm đồ vật đưa ra xa, thích vẽ, tự mặc hoặc cởi quần áo.
Trẻ bắt đầu biết pha trò, biết nũng nịu, biết nịnh mẹ, biết bắt chước biểu cảm và hành động của người lớn.
Trẻ đã biết xâu chuỗi sự kiện thành hệ thống và có thể thay đổi hành vi cho phù hợp với hoàn cảnh. Khi gần 20 tháng tuổi, trẻ đã có thể hoàn toàn đi vững và chạy nhảy.
Nguyên Nhân Khủng Hoảng,Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Liên Xô Và Đông Âu
NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG, SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU
Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đi vào thời kì khủng hoảng. Từ tháng 4/1989 đến tháng 9/1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, tạo nên “cơn chấn động” chính trị lớn nhất trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Vấn đề đặt ra là vì sao chế độ xã hội chủ nghĩa lại bị thất bại ở Liên Xô và Đông Âu? Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng lịch sử này, đưa ra nhiều nguyên nhân cả sâu xa và trực tiếp, cả bên trong và bên ngoài để cắt nghĩa, lí giải về sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu…
Với chúng tôi, khi nghiên cứu đề tài “Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu”, chúng tôi xin đưa ra những nguyên nhân về sự khủng hoảng và sụp đổ ấy như sau: 1. Nguyên nhân khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
Bước vào thập niên 70 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động, báo hiệu cuộc khủng hoảng chung mang tính toàn cầu (không trừ một quốc gia nào).
Mở đầu là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về năng lượng dầu mỏ năm 1973, chứng tỏ sự khan hiếm và thiếu hụt của nguồn năng lượng dầu mỏ, dẫn tới giá cả tăng cao, kéo theo là hàng loạt các cuộc khủng hoảng khác về kinh tế, tài chính và chính trị, đặt ra cho toàn nhân loại những vấn đề bức thiết phải giải quyết (sự bùng nổ dân số, hiểm họa môi trường, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt; sự giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển theo xu thế quốc tế hóa…) để thích nghi về kinh tế, chính trị và xã hội.
Những biến động này đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành những cải cách điều chỉnh về cơ cấu kinh tế, chính trị – xã hội cho phù hợp với tình hình mới.
Đây là sự thách thức và cũng là một cơ hội để vươn lên của mỗi quốc gia, nhưng những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô và Đông Âu lại không nhận thức đầy đủ những thách thức đó, chủ quan cho rằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng chung toàn thế giới nên chậm thích ứng, chậm sửa đổi và đã bỏ lỡ cơ hội này. Trước hết, là do quan niệm giản đơn, phiến diện quy luật về mối quan hệ giữa sản xuất và lực lượng sản xuất; cho rằng, có thể dùng ý chí cách mạng để xây dựng nhanh quan hệ sản xuất tiên tiến trên cái nền lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém và lạc hậu, và cho rằng, quan hệ sản xuất tiên tiến tự nó mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Liên Xô bị khủng hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ. Các nhà lãnh đạo Đông Âu thì cho rằng chủ nghĩa xã hội là ưu việt và bản thân họ chẳng có gì sai mà sửa chữa. Song khi thay đổi lại xa rời nguyên lí Mác – Lênin.
Sau cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973, các nước tư bản chủ nghĩa đã ngồi họp lại với nhau và nhận thấy một điều rằng: sự phát triển của họ không còn phù hợp, cần phải tự điều chỉnh và thích nghi hơn với tình hình mới. Vì thế, họ đã nhanh chóng tiến hành nhiều cải cách, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội, hình thức quản lí, đi sâu vào khoa học – kĩ thuật, đổi mới công nghệ, nên đã vượt qua được khủng hoảng và tiếp tục đi lên.
Thế giới đang chứng kiến những đổi thay kì diệu do cuộc cách mạng khoa học – công nghệ mang lại. Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật thế giới hay còn gọi là cách mạng công nghệ bước sang giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu, đã đạt được những thành tựu kì diệu, có vị trí và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại: Một là, làm thay đổi các nhân tố sản xuất, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của sản xuất và tăng năng suất lao động, mở rộng lĩnh vực hoạt động của con người, sáng tạo công cụ và kĩ thuật sản xuất mới, cải tiến việc sản xuất và quản lí lao động, nâng cao không ngừng mức sống và chất lượng cuộc sống của con người. Từ đó dẫn đến những thay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới về giáo dục và đào tạo nghề nghiệp; hai là, loài người chuyển sang một nền văn minh mới với nhiều tên gọi; ba là, kinh tế thế giới được quốc tế hóa cao độ, xu thế toàn cầu hóa – khu vực hóa đang từng bước phát triển – thế giới như thu nhỏ lại, mọi sự liên lạc, gặp gỡ có thể diễn ra hết sức nhanh chóng; bốn là, những mặt trái của khoa học – kĩ thuật mà con người chưa thể khắc phục được như tình trạng ô nhiễm môi trường trên Trái đất cũng như trong vũ trụ, những tai nạn lao động và giao thông, các loại dịch bệnh mới… và nhất là việc chế tạo những loại vũ khí hiện đại có sức công phá và hủy diệt nhiều lần sự sống trên hành tinh.
Trong tình hình mới, mô hình và cơ chế kinh tế cũ của chủ nghĩa xã hội vốn đã tồn tại nhiều khuyết tật (phát triển kinh tế theo chiều rộng với hiệu quả thấp và thiếu sức sống, phủ nhận quy luật khách quan về kinh tế), đã cản trở sự phát triển mọi mặt của xã hội. Sau khi V.I.Lênin qua đời ở Liên Xô, chính sách kinh tế mới không được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ. Thời gian đầu, kế hoạch hóa tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Sau chiến tranh thế giới lần 2, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì mô hình này. Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác là các nhà lãnh đạo của Liên Xô và Đông Âu đã đánh giá quá cao chủ nghĩa xã hội hiện thực và đánh giá quá thấp chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc; chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn trong việc hoạch định các bước đi của tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (như quan điểm của Liên Xô về “chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn thắng lợi”, “xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”, “chủ nghĩa xã hội phát triển”…), không thấy hết tính chất lâu dài, quanh co, phức tạp của thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài trên cản trở sự cải tổ, cải cách, đổi mới đúng đắn là nguyên nhân sâu xa làm chế độ xã hội chủ nghĩa suy yếu, rơi vào khủng hoảng. Đó không phải những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà do quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội.
Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây dựng năng lực cầm quyền của một chính đảng cách mạng sau khi giành được chính quyền chưa thực hiện đầy đủ, khiến Đảng không phát huy được vai trò của người lãnh đạo, người tổ chức nhân dân; vừa không phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội…, dẫn đến tình trạng quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn.
Sự bất mãn trong nhân dân ngày càng tăng trước những hiện tượng thiếu dân chủ, chưa công bằng, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, tệ quan liêu, độc đoán trong bộ máy Nhà nước làm cho đất nước lâm vào tình trạng trì trệ rồi khủng hoảng toàn diện.
Trong những năm 1989 – 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chế độ mới được dựng lên với những nét chung nổi bật là:
* Tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội. * Thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng. * Xây dựng Nhà nước pháp quyền đại nghị và nền kinh tế theo cơ chế thị trường. * Các chính đảng vô sản đều đổi tên đảng và chia rẽ thành nhiều phe phái. * Tên nước, Quốc kì, Quốc huy và ngày Quốc khánh thay đổi, theo hướng chung gọi là các nước cộng hòa.
2. Nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do nhiều nguyên nhân.
– Nguyên nhân sâu xa nằm trong mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp thay cho cơ chế thị trường, kế hoạch hóa cao độ. Mô hình đó đã có những phù hợp nhất định trong thời kì đặc biệt trước đây, nhưng không còn phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa, không sáng tạo và không năng động, ngày càng bộc lộ sự thiếu tôn trọng các quy luật phát triển khách quan về kinh tế – xã hội, chủ quan, duy ý chí, làm nảy sinh tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Xét về mặt kinh tế, khiếm khuyết và hạn chế của mô hình cũ là đã không chú trọng đầy đủ tới đặc điểm kinh tế hàng hóa và quy luật giá trị, tới cơ cấu đa dạng của sản phẩm hàng hóa có chất lượng và giá trị cao để cạnh tranh. Do quan điểm giản đơn về tính thuần nhất của sở hữu xã hội chủ nghĩa nên các hình thức sở hữu ngoài quốc doanh và tập thể không được chú trọng, tiềm năng và năng lực kinh tế cá thể, tư nhân không được khai thác. Chủ nghĩa tư bản nhà nước như một hình thức phát triển kinh tế của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Lênin nêu ra trong Chính sách kinh tế mới (NEP) đã không được vận dụng. Kinh tế hiện vật và kinh tế chỉ huy đã chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến sự cứng nhắc trong quản lí, trong cơ chế và chính sách. Năng suất, chất lượng, hiệu quả tuy vẫn được thường xuyên nhắc tới nhưng lại không dựa trên cơ sở lợi ích trực tiếp của người lao động nên không khuyến khích được sự nhiệt tình, chủ động, sáng tạo của người lao động. Tài sản, nguyên vật liệu và các nguồn lực, kể cả con người bị lãng phí rất lớn. Kĩ thuật công nghệ chậm đổi mới, bị lạc hậu. Xét về mặt chính trị, hạn chế của mô hình này biểu hiện ở chỗ hệ thống tổ chức và bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, dễ dẫn tới tình trạng quan liêu hóa, xa rời thực tiễn, xa dân, kém hiệu quả, không phân biệt rõ ràng, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động giữa Đảng và Nhà nước cũng như các tổ chức khác trong hệ thống tổ chức chính trị, dẫn tới sự chồng chéo dẫm chân lên nhau. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm. Quyền làm chủ của người lao động, sự tham gia của quần chúng vào hoạt động quản lí Nhà nước và đời sống chính trị – xã hội nói chung còn bị hạn chế và ít tác dụng do tính chất dân chủ hình thức, quan liêu, tham nhũng gây nên.
Xét về mặt văn hóa – xã hội và đời sống tinh thần, những khiếm khuyết của mô hình cũ biểu hiện ở sự vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân, sự thiếu nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật, thiếu dân chủ và công bằng xã hội. Tính hình thức và bệnh giáo điều đã làm cho công tác giáo dục hệ tư tưởng và ý thức xã hội xa rời thực tế cuộc sống. Lí luận tách rời thực tiễn.
Các lĩnh vực văn hóa tinh thần rơi vào sự đơn điệu, nghèo nàn. Sự giao lưu văn hóa quốc tế không được khuyến khích.
– Những thiếu sót, khuyết tật lâu ngày chậm được khắc phục, sửa chữa càng làm cho các nước xã hội chủ nghĩa xa rời những tiến bộ, văn minh của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại, đưa tới tình trạng trượt dài từ trì trệ đến khủng hoảng nặng nề về kinh tế – xã hội. Sự thực, không phải các nhà lãnh đạo nhiều nước chủ nghĩa xã hội trước đây không nhận thấy những trì trệ đó, nhưng mọi cố gắng cải cách đều không thu được kết quả trong khuôn khổ cơ chế mô hình cũ.
– Sau này khi tiến hành cải tổ, cải cách, những người lãnh đạo ở Liên Xô và Đông Âu lại liên tiếp phạm thêm nhiều sai lầm nghiêm trọng về bước đi, nội dung, phương pháp, trong đó điều chủ yếu là buông lỏng chuyên chính vô sản, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin, hiện thực dân chủ hóa, công khai hóa cao độ, mơ hồ về chính trị, giai cấp; bị các thế lực phản động, đễ quốc lợi dụng tiến công chủ nghĩa xã hội. Cải tổ là tất yếu, khách quan xuất phát từ bản chất của chủ nghĩa xã hội, là nhu cầu chin muồi của các nhân tố chủ quan, khách quan. Vấn đề là phải cải tổ như thế nào. Cuộc cải tổ của Goócbachốp được các nước phương Tây ngàn lần cổ vũ, hậu thuẫn… Cải tổ kiểu như thế mà chế độ xã hội chủ nghĩa không sụp đổ mới là điều đáng ngạc nhiên (Nguyễn Đức Bình – Đôi điều suy nghĩ về vận mệnh chủ nghĩa xã hội. Tạp chí Cộng sản, số 13, 7/2003, tr.10).
Như vậy, trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô và các nước Đông Âu đã mắc sai lầm rất nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là đường lối hữu khuynh, cơ hội và xét lại, thể hiện trước hết ở những người lãnh đạo cao nhất. Những tuyên bố ban đầu: “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”, “chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài nó”, “chúng ta tìm trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội chứ không phải ở ngoài giới hạn của nó những câu trả lời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra”…, rốt cuộc chỉ là những tuyên bố suông ngụy trang cho ý đồ phản bội.
Có thể thấy sai lầm của cải tổ biểu hiện chủ yếu ở những điểm sau:
Thứ nhất, sự dao động về tư tưởng, lập trường chính trị dẫn tới mất phương hướng chính trị và từ bỏ nguyên tắc ở những thời điểm bước ngoặt, chấp nhận đa nguyên hệ tư tưởng và đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phủ nhận tập trung dân chủ là nguyên tắc cốt tử của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, làm cho Đảng không còn là một tổ chức chính trị cầm quyền mà trở thành một câu lạc bộ bàn suông. Nhà nước không còn quyền lực điều hành và không kiểm soát nổi tình hình đất nước.
Những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng bước, từng bước, thậm chí ngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Thứ hai, không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải cách kinh tế và cải cách chính trị. Khi cải cách kinh tế tiến triển thì không kịp thời tiến hành cải cách chính trị. Đến khi cải cách kinh tế gặp khó khăn thì lại chuyển trọng tâm sang cải cách chính trị.
Thứ ba, phiêu lưu mạo hiểm trong chính sách, bước đi và biện pháp cải tổ. Đó là tăng tốc kinh tế – kĩ thuật thời kì đầu, cấm bia rượu… là những tính toán chủ quan duy ý chí gây rối loạn kinh tế, mất ổn định xã hội. Cải tổ chính trị không dựa trên thực trạng kinh tế, tiến hành “dân chủ công khai” một cách mơ hồ, mở đường cho các thế lực phản động tấn công vào Đảng, vào chủ nghĩa xã hội, thao túng xã hội, kích động, mị dân, lừa bịp quần chúng.
Bằng phát súng lệnh “công khai”, “dân chủ”, “không vùng cấm”, cải tổ đã nhanh chóng tạo ra làn sóng phê phán, công kích, bôi đen tất cả những gì gắn với lịch sử hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ định sạch trơn mọi thành tựu của chủ nghĩa xã hội. Nó gây hoang mang, xáo động đến cực độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá trị của chủ nghĩa xã hội. Người ta sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng để làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới, phủ định quá khứ được các đài, báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ và lái theo những ý đồ, mục đích của phương Tây.
Thứ tư, không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình hình ngày một xấu đi nghiêm trọng về đời sống vật chất, tinh thần tối thiểu của quần chúng, gây nên sự thờ ơ về chính trị, thậm chí chống lại công cuộc cải tổ. Mất cơ sở xã hội và bị phân liệt về tổ chức nên Đảng đã mất sức chiến đấu và mất vai trò lãnh đạo.
Thứ năm, các quan điểm mơ hồ, hữu khuynh, xét lại xung quanh vấn đế “tư duy chính trị mới”, phủ nhận đấu tranh giai cấp và cách mạng, tuyệt đối hóa lợi ích toàn cầu nhân loại, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản, tạo mảnh đất thuận lợi cho âm mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc.
Chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, thực hiện được “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và các nước Đông Âu. Các chiến lược gia phương Tây sớm nhận ra “gót chân Asin” của cải tổ: đó là đường lối xét lại, là hệ tư tưởng tư sản, là chính sách thỏa hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc với Mĩ và phương Tây thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới”. Hứa hẹn viện trợ kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộc cải tổ theo quỹ đạo mà phương Tây mong muốn. Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và Đông Âu.
Thứ sáu, để xảy ra xung đột, nội chiến dân tộc, sắc tộc ngày càng gay gắt, dẫn tới tan rã của Nhà nước Liên bang Xô viết.
– Ngoài ra, sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu còn do những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước, đặc biệt là âm mưu “diễn biến hòa bình”, “cách mạng nhung”, “chiến thắng không cần chiến tranh” của chủ nghĩa đế quốc. Chiến lược diễn biến hòa bình đã được các nước đế quốc công phu thiết kế dàn dựng lâu dài từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Chống phá chủ nghĩa xã hội là một chiến lược phản cách mạng bao gồm các phương tiện và thủ đoạn tinh vi từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội. Chúng thường cấu kết với các thế lực phản động chống phá từ bên trong, tập trung vào các đối tượng nhạy cảm như thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ để lung lạc thế giới quan, hệ tư tưởng, kích động tâm lí bất mãn, chống đối, gây thù hằn dân tộc, tôn giáo, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do” với nội dung trừu tượng, phi lịch sử mà thực chất là lồng vào đó quan điểm tư sản, chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội. Chúng còn ra sức khai thác những yếu điểm, sai lầm trong các nước xã hội chủ nghĩa, thổi bùng tâm lí bất mãn, chống đối, làm suy yếu mối liên hệ xã hội của quần chúng nhân dân với Đảng và Nhà nước, tiến hành tuyên truyền, lừa mị dân, kết hợp với thâm nhập kinh tế, văn hóa để đẩy nhanh sự chệch hướng. Trong cuốn sách “Chiến thắng không cần chiến tranh”, Tổng thống Mĩ Níchxơn cho rằng “mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”. Ông ta viết: “Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp định mậu dịch, viện trợ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Chiến lược của Mĩ trước sau như một là đưa bất ổn vào bên trong “bức màn sắt”.
– Nguyên nhân cuối cùng là do yếu kém về năng lực, sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào đảng, vào chế độ. Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, xét lại, phản bội lí tưởng của chủ nghĩa xã hội ở một số nhà lãnh đạo cải tổ là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự tan rã của chủ nghĩa xã hội.
Có thể nói, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc cùng với sự phản bội từ bên trong và từ trên chóp bu của cơ quan lãnh đạo cao nhất là nguyên nhân trực tiếp làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.
Ngoài những nguyên nhân có ý nghĩa phổ biến, khái quát cho Liên Xô và các nước Đông Âu nói trên, ở mỗi nước cũng còn có những nguyên nhân riêng biệt, đặc thù dân tộc. Đối với các nước Đông Âu, đó là:
Thứ ba, hầu hết các nước này đã trải qua nhiều năm dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, truyền thống dân chủ tư sản in đậm trong tư tưởng tập quán của nhân dân. Việc tiến hành hợp nhất các đảng công nhân sau chiến tranh diễn ra một cách vội vàng, thiếu nguyên tắc đã chứa đựng nguy cơ chia rẽ sâu sắc.
Thứ tư, các thế lực chống đối chủ nghĩa xã hội cả ở trong và ngoài nước rất mạnh gồm công chức, sĩ quan, tư sản địa chủ, binh lính của chế độ cũ, nhà thờ Thiên Chúa giáo, Đảng Xã hội dân chủ… cùng cấu kết với nhau, có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nước ngoài, nằm chờ, khi có thời cơ sẽ nổi dậy nhằm chống phá lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm, trong cơn nguy kịch của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu, chính sách “không can thiệp” của chính phủ Liên Xô, đứng đầu là Goócbachốp đã tạo điều kiện thuận lợi thêm để cho các thế lực phản động cách mạng tự do hành động, chống phá chủ nghĩa xã hội ở đây.
Sự tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trong những năm 1989 – 1991 đã gây ra những hậu quả hết sức nặng nề. Đó là một tổn thất chưa từng có trong lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, dẫn đến hệ thống thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại nữa. Từ đây, trật tự thế giới hai cực cũng đã kết thúc. Thế giới bước vào một thời kì mới với các xu thế mới đang vận động.
Tuy nhiên, đây chỉ là sự tan rã của một mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học chứ không phải là sự tan rã của chủ nghĩa xã hội như một hình thái kinh tế – xã hội mới mà Mác và Ăngghen đã nêu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Hơn nữa, như Lênin đã viết: “Nếu người ta nhận xét thực chất của vấn đề, thì có bao giờ người ta thấy rằng trong lịch sử có một phương thức sản xuất mới nào lại đứng vững ngay được mà lại không liên tiếp trải qua nhiều thất bại, nhiều sai lầm và tái phạm không?”.
Từ những cơ sở ấy, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam đã rủt ra được nhiều bài học kinh nghiệm xương máu, đưa công cuộc cải cách – đổi mới đi tới thắng lợi, nhằm xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất nhân văn vì giải phóng và hạnh phúc con người, phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc.
Trong thế kỉ XX, loài người chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng, những biến đổi to lớn của tình hình thế giới, thậm chí có những đảo lộn bất ngờ, trong đó có sự khủng hoảng rồi tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 80 – đầu 90.
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 bùng nổ và thắng lợi đã mở ra một thời kì phát triển mới đối với lịch sử thế giới, dẫn tới sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới – nước Nga Xô viết, sau đó là Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô), chiếm 1/6 diện tích địa cầu. Chủ nghĩa xã hội từ lí thuyết đã trở thành hiện thực. Trong những năm 20 – 30 của thế kỉ XX, Nhà nước xã hội chủ nghĩa này tồn tại sừng sững trong thế giới tư bản, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế – xã hội, chính trị và văn hóa mà các dân tộc đang đấu tranh tự giải phóng khỏi ách áp bức dân tộc và xã hội phải ngưỡng mộ và hướng tới.
Từ giữa những năm 40 của thế kỉ XX, với sự thắng lợi của công cuộc chống chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước, trở thành hệ thống thế giới, làm thay đổi bộ mặt hành tinh chúng ta. Trong đời sống quan hệ quốc tế đã xuất hiện hai hệ thống xã hội đối lập. Chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống xã hội duy nhất nữa. Trong quá trình mở rộng và phát triển, chủ nghĩa xã hội đã trải rộng từ Âu sang Á và khu vực Mĩ Latinh. Những thành tựu về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học – kĩ thuật và quân sự mà hệ thống này đạt được là không thể phủ nhận. Trong khoảng hơn 30 năm, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, đã chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao, giá trị nhân văn của nó lan tỏa. Chủ nghĩa xã hội trở thành chỗ dựa của các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và phát triển. Tuy nhiên, do những khiếm khuyết trong quá trình xây dựng không được sớm khắc phục, do những sai lầm trong đường lối xây dựng và chính sách cụ thể, cũng như sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc cùng các thế lực phản động trong nước và quốc tế, cuối cùng vào những năm 80 – đầu 90, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô lâm vào khủng hoảng toàn diện và sau đó tan rã, lịch sử nước này bước sang một giai đoạn mới.
Có thể nói rằng, sự tan rã của Liên bang Xô viết – hai năm sau khi Bức tường Béclin sụp đổ (1989)- là “thảm họa địa chính trị lớn nhất” trong thế kỉ XX. Nó gây ra một cú sốc trên quy mô toàn cầu.
Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khủng hoảng và sụp đổ đã dẫn tới hệ thống chủ nghĩa xã hội ở trên thế giới thực tế là không còn tồn tại nữa. Đây là một bước tụt lùi và là một thất bại nặng nề của hệ thống chủ nghĩa xã hội.
Trong tình hình chủ nghĩa xã hội trì trệ và khủng hoảng do những sai lầm của mô hình cũ thì cải tổ, cải cách mở cửa, đổi mới là tất yếu. Vì chỉ có một cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới sâu sắc, toàn diện mới đưa chủ nghĩa xã hội thoát khỏi khủng hoảng để bước vào thời kì phát triển mới. Cải tổ, cải cách, mở cửa, đổi mới là tất yếu nhưng sụp đổ thì không là tất yếu. Vấn đề ở chỗ: cải tổ, cải cách, mở cửa, đổi mới thế nào, nhằm mục đích gì, theo đường lối nào.
Một số đảng cộng sản các nước trên thế giới đã nhận định nguyên nhân của sự sụp đổ này là: Sự lệch lạc về hệ tư tưởng của những người lãnh đạo đảng và sự thiếu hiểu biết về hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân dân; sự thiếu dân chủ trong xã hội và trong đảng; tình trạng quan liêu trong đảng, tham nhũng và sự xa lánh nhân dân của lãnh đạo đảng; một số sai lầm trong chính sách kinh tế của đảng cộng sản cầm quyền; và sự phá hoại tinh vi của chủ nghĩa đế quốc… Đó chính là do sự xa rời bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tách rời tính cách mạng với tính khoa học trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội.xã Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất, một thất bại lớn nhất của phong trào cộng sản, nó phản ánh đúng cuộc đấu tranh cách mạng, có thắng lợi cách mạng, thất bại là tạm thời, thất bại có trong sự trưởng thành. Đây chỉ là sự thất bại của một mô hình. Trên thực tế, sự tan rã ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự thất bại của chế độ và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà chỉ là sự thất bại của một mô hình thực tiễn nhất định. Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô – mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc, nó không đồng nghĩa với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một hình thái kinh tế – xã hội mà loài người đang vươn tới. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cũng không vì thế mà thay đổi nội dung, tính chất của thời đại. Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Sự tan rã ấy chỉ chứng tỏ tính quanh co, phức tạp của sự phát triển xã hội mà thôi.
Từ thất bại và tổn thất này, nhiều bài học bổ ích đã được rút ra cho các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đang tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới nhằm xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất nhân văn của nó và phù hợp với mục tiêu của thời đại. Toàn bộ thực tiễn từ năm 1941 đến nay đã chứng minh điều đó, nó khẳng định sức sống của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản vẫn là sự lựa chọn cuối cùng. Những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc, nhân dân Việt Nam đang đạt được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội với những mô hình phù hợp, đang khẳng định sức sống của chủ nghĩa xã hội.
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc, không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên, cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”.
Hay như Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (4/2001) cũng đã khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội thế giới từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc có điều kiện và khả năng vượt qua thời kì thoái trào, tạo ra bước phát triển mới. Lịch sử thế giới đã, đang và sẽ còn trài qua những bước quanh có, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.
Có thể nói, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học, chưa nhân văn. Đây chỉ là một bước lùi tạm thời của chủ nghĩa xã hội chứ không phải là sự sụp đổ của lí tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại. Ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội đã từng tung bay trên những khoảng trời rộng lớn, từ bờ sông Enbơ đến bờ biển Nam Hải rồi vượt trùng dương rộng lớn đến tận hòn đảo Cuba nhỏ bé anh hùng. Ngọn cờ ấy tuy có dừng tung bay ở bầu trời Liên Xô và một số nước Đông Âu nhưng rồi đây sẽ lại tung bay trên nhiều khoảng trời mênh mông xa lạ: Bầu trời Đông Nam Á, bầu trời châu Phi, Mĩ Latinh và ngay trên cả cái nôi ồn ào, náo nhiệt của chủ nghĩa tư bản phương Tây… Đó là ước mơ của nhân loại tiến bộ và đó cũng là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người. Và đó cũng chính là triển vọng của chủ nghĩa xã hội trong tương lai. Triển vọng của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quan trọng nhất là sự đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa. Chính công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước là động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa xã hội thế giới. Thực tiễn thành công trong hơn 25 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và công cuộc đổi mới ở Việt Nam 20 năm qua là minh chứng hùng hồn, là sức sống mãnh liệt của tương lai chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
(Sưu tầm)
Cập nhật thông tin chi tiết về 5 Năm Chìm Trong Khủng Hoảng Của Venezuela trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!